Chương 1: Những vấn đề lý luận về THPL trong giải quyết tố cáo hành chính. Chương 2: Các yếu tố tác động và thực tiễn THPL về giải quyết tố cáo hành chính tại UBND thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội. Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả THPL về giải quyết tố cáo hành chính trên địa bàn thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội. 6 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO HÀNH CHÍNH 1.
Những vấn đề chung về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính 1. Khái niệm tố cáo hành chính Quyền khiếu nại, quyền tố cáo là những quyền cơ bản của công dân. Qua các giai đoạn phát triển trong lịch sử lập hiến và lập pháp của Việt Nam, các quy định về những quyền này không ngừng được hoàn thiện. Lần đầu tiên “quyền khiếu nại và tố cáo” được ghi nhận mang tính chất hiến định tại Hiến pháp năm 1959.
Tiếp đó, tại Hiến pháp năm 1980, quy định về “quyền khiếu nại và tố cáo” được cụ thể hơn một bước. Đến Hiến pháp năm 1992, “quyền khiếu nại, tố cáo” của công dân đã được phân định thành hai quyền cơ bản là “quyền khiếu nại” và “quyền tố cáo”. Những nguyên tắc cơ bản để công dân thực hiện các quyền này cũng được ghi nhận rõ hơn. Cùng với sự hoàn thiện các quy định mang tính chất hiến định, pháp luật Việt Nam cũng dần mở rộng đối tượng điều chỉnh và tạo cơ chế thuận lợi để các chủ thể thực hiện những quyền này.
Đó cũng là quá trình Việt Nam nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tố cáo của công dân. Tố cáo là hiện tượng xã hội, phát sinh từ tâm lý bất bình của cá nhân khi có những hành vi, việc làm trái với đạo đức, đạo lý hay vi phạm pháp luật, vi phạm nội quy, quy chế, quy định của tập thể, cơ quan, tổ chức làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người tố cáo, cá nhân, tập thể, cơ quan, nhà nước. Dựa vào từng góc độ nhìn nhận lại có những định nghĩa khác nhau về tố cáo. Dưới phương diện xã hội, theo từ điển Tiếng Vi t tho ng dụng thì tố cáo là: “vạch rõ tọ i l i của k khác tru ớc co quan pháp luạ t 7 z hoạ c tru ớc du luạ n” [53, tr.
Do vậy, tố cáo dưới phương diện này được hiểu là báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết hành vi hoặc chủ thể thực hiện hành vi phạm pháp nào đó, vạch trần những tội ác, hành động xấu cho mọi người biết nhằm ngăn chặn, lên án. Tố cáo được hiểu từ phương diện xã hội có tính phổ biến nhưng không làm rõ được chủ thể của tố cáo và đối tượng bị tố cáo. Dưới góc độ khoa học pháp lý, Từ điển Luạ t học xác định tố cáo là hành vi của co ng da n báo cho co quan nhà nu ớc có thẩm quyền về hành đọ ng vi phạm pháp luạ t của mọ t ngu ời nào đó khác [4, tr. Như vậy, tố cáo là báo cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi trái pháp luật của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi trái pháp luật của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân mà gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Nội dung của tố cáo chứa đựng thông tin về hành vi vi phạm của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân bị tố cáo. Hành vi vi phạm này có thể trực tiếp xâm phạm đến quyền và lợi ích của người tố cáo hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Thời điểm tố cáo có thể là trước hoặc sau khi xảy ra hành vi sai trái. Trường hợp hành vi trái pháp luật sắp xảy ra, tố cáo là hình thức cảnh báo sớm về mối nguy hại.
Mục đích chính của tố cáo lúc này là ngăn chặn những thiệt hại và mối nguy hiểm có thể xảy ra. Còn trong trường hợp tố cáo hành vi đã xảy ra, mục đích chính là xử lý sai phạm và khắc phục hậu quả do hành vi bị tố cáo gây ra [14]. Tại Hiến pháp năm 2013, tố cáo được coi là quyền hiến định: Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ 8 z chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật [40, Điều 30]. Cụ thể hoá Hiến pháp, khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2018 quy định: Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm: a) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; b) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về QLNN trong các lĩnh vực. Như vậy, giống như Luật Tố cáo 2011, Luạ t Tố cáo 2018 cũng pha n loại nọ i dung tố cáo theo hành vi thực hi n co ng vụ của cán bọ , co ng chức và hành vi vi phạm thuọ c các lĩnh vực quản lý chuye n ngành, theo đó: Tố cáo hành vi vi phạm pháp luạ t của cán bọ , co ng chức, vie n chức trong vi c thực hi n nhi m vụ, co ng vụ là vi c co ng da n báo cho co quan, tổ chức, cá nha n có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luạ t của cán bọ , co ng chức, vie n chức trong vi c thực hi n nhi m vụ, co ng vụ. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luạ t về quản l nhà nu c trong các lĩnh vực là vi c co ng da n báo cho co quan quản lý nhà nu ớc có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luạ t của bất cứ co quan, tổ chức, cá nha n nào đối với vi c chấp hành quy định pháp luạ t về quản lý nhà nu ớc trong các lĩnh vực.
9 z Để hiểu đúng bản chất của tố cáo, cần phải xem xét dưới các khía cạnh chủ thể, đối tượng, mục đích của tố cáo và cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố cáo: Chủ thể thực hiện quyền tố cáo là mọi cá nhân; đối tượng bị tố cáo là bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều là đối tượng bị tố cáo. Hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo có thể là hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ hoặc là hành vi vi phạm pháp luật về QLNN trong các lĩnh vực; mục đích của tố cáo là nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, xã hội khác. Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu có liên quan chỉ ra rằng, trong từng lĩnh vực cụ thể tố cáo được hiểu theo một giới hạn nội hàm cụ thể. Ví dụ, trong lĩnh vực hình sự, tố cáo tội phạm được hiểu qua khái niệm tố giác về tội phạm: “Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm v i cơ quan có thẩm quyền”.
Về nguyên tắc việc thực hiện quyền tố cáo được thực thi theo các luật chuyên ngành thì sẽ áp dụng luật chuyên ngành. Ví dụ, tố cáo tội phạm trong lĩnh vực hình sự sẽ được giải quyết theo pháp luật hình sự, tố cáo trong lĩnh vực hành chính sẽ được giải quyết theo pháp luật hành chính, còn nếu các tố cáo không giải quyết theo pháp luật chuyên ngành sẽ giải quyết theo pháp luật tố cáo mà chủ yếu là Luật tố cáo năm 2018. Dưới phương diện này, tố cáo đu ợc pha n thành các dạng co bản sau: - Tố cáo hành chính: tố cáo về các hành vi vi phạm pháp luạ t thuọ c phạm vi quản lý của co quan nhà nu ớc. Đa y là dạng tố cáo hu ớng vào các hành vi vi phạm về các quy định của pháp luạ t về quản lý nhà nu ớc.
Vi c xử lý, giải quyết tố cáo dạng này do các co quan giải quyết theo thủ tục hành chính tho ng thu ờng. 10 z - Tố cáo về các hành vi vi phạm của tổ chức, đoàn thể, cọ ng đồng da n cu thuọ c phạm vi điều chỉnh của nọ i bọ các tổ chức, đoàn thể, cọ ng đồng da n cu đó. Đa y là dạng tố cáo hu ớng vào các hành vi trái với to n chỉ, muc đích đã đu ợc thể hi n trong quy định của tổ chức, của cọ ng đồng; trái với lua n thu ờng đạo lý đã mạ c nhie n đu ợc thừa nhạ n. Xử lý tố cáo dạng này đu ợc thực hi n theo quy định của tổ chức, cọ ng đồng đã đu ợc ghi nhạ n trong quy chế, điều l hoạ c đu ợc hình thành mạ c nhie n trong cọ ng đồng.
- Tố cáo tọ i phạm: tố cáo về hành vi vi phạm pháp luạ t hình sự khi co ng da n cho rằng mọ t cá nha n, mọ t tổ chức đã hoạ c sẽ thực hi n hành vi ga y nguy hiểm cho xã họ i hoạ c cho rằng hành vi đó đã vi phạm các quy định của pháp luạ t hình sự thì họ thực hi n tố cáo hành vi vi phạm tru ớc co quan có thẩm quyền. Hành vi là đối tu ợng của dạng tố cáo này đu ợc quy định cụ thể trong pháp luạ t hình sự. Vi c xử lý và giải quyết tố cáo tọ i phạm đu ợc quy định chạ t chẽ và thực hi n theo thủ thục tố tụng hình sự.