Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty CP Công nghiệp Thiên Phú. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty CP Công nghiệp Thiên Phú. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1.
TỔNG QUAN VỀ TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, phân loại doanh nghiệp Theo luật Doanh nghiệp, 2005: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”[14]. Cũng theo Luật doanh nghiệp 2005 giải thích: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ”[14]. Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Có nhiều cách phân loại doanh nghiệp. Theo bản chất kinh tế của chủ sở hữu: theo cách này có thể chia các tổ chức doanh nghiệp ra làm 3 loại hình chính dựa trên hình thức và giới hạn trách nhiệm của chủ sở hữu: Doanh nghiệp tƣ nhân, doanh nghiệp hợp danh, doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn. Căn cứ vào hình thức pháp lý doanh nghiệp: theo cách này thì hình thức pháp lý của các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn (gồm Công ty TNHH một thành viên và Công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên), công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tƣ nhân. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là:“doanh nghiệp do một thành viên làm chủ sở hữu, thành viên có thể là một tổ chức hay một cá nhân.
Công ty có tư cách pháp nhân và không được phép phát hành cổ phiếu và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp. Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức hoặc cá nhân khác”[14]. 6 Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là:“doanh nghiệp trong đó thành viên có thể là tổ chức, cá nhân với số lượng không vượt quá 50 người. Vốn của công ty chia ra thành từng phần gọi là phần vốn góp, họ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phần vốn góp của mình”[14].
Công ty có tƣ cách pháp nhân và không đƣợc quyền phát hành cổ phiếu. Thu nhập của công ty sau khi bù đắp lại những chi phí đã bỏ ra và hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nƣớc, phần còn lại thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp. Sau khi trích lập các quỹ, số còn lại đƣợc đem chia cho các chủ sở hữu theo tỷ lệ phần vốn góp của mỗi ngƣời. Công ty cổ phần là:“doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Người gốp vốn dưới hình thức mua cổ phiếu gọi là cổ đông. Cổ đông trong công ty cổ phần có thể là tổ chức, cá nhân, nhưng số thành viên sáng lập công ty ít nhất là 3 và không hạn chế số lượng tối đa. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty được quyền phát hành chứng khoán ra công chúng”[14].
Thu nhập của công ty sau khi trang trải các khoản chi phí bỏ ra và hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nƣớc, công ty dùng một phần lợi nhuận để tái đầu tƣ mở rộng sản xuất và chi tiêu cho mục đích chung. Một phần khác chia cho các cổ đông và coi đây là lợi tức cổ phần (cổ tức). Công ty hợp danh là:“doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất 2 thành viên hợp danh và có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Công ty”[14].
Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp. Công ty hợp danh có tƣ cách pháp nhân kể từ khi có giấy đăng ký kinh doanh, và không đƣợc phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty, tiến hành hoạt động kinh doanh nhân danh công ty. Thành viên góp vốn có quyền đƣợc chia lợi nhuận theo tỷ lệ theo quy định 7 của điều lệ công ty nhƣng không đƣợc tham gia quản lý công ty và hoạt động nhân danh công ty.
Doanh nghiệp tƣ nhân là:“doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”[14]. Vốn đầu tƣ của chủ doanh nghiệp do chủ doanh nghiệp tự đăng ký và có quyền tăng và giảm vốn đầu tƣ. Trƣờng hợp giảm vốn đầu tƣ thấp hơn số vốn đã đăng ký thì chủ doanh nghiệp phải khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh. Chủ doanh nghiệp toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Sau khi hoàn thành nghĩa vụ với NSNN, chủ doanh nghiệp có toàn quyền quyết định về việc sử dụng phần thu nhập còn lại. Chủ doanh nghiệp có quyền thuê ngƣời khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh nhƣng phải khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh. Mỗi loại hình doanh nghiệp có sự khác nhau về quy mô, cơ cấu tổ chức, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, khác nhau về cách thức ra quyết định từ đó có ảnh hƣởng đến hiệu qủa sử dụng tài sản. Những vấn đề cơ bản về tài sản của doanh nghiệp 1.
Khái niệm tài sản của doanh nghiệp Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam: “Tài sản là nguồn lực do đơn vị kiểm soát và có thể mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai”[2]. Trong đó: Lợi ích kinh tế trong tƣơng laicủa một tài sản là:“tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của đơn vị hoặc làm giảm bớt các khoản tiền mà đơn vị phải chi ra”[2]. Quyền kiểm soát đối với một nguồn lực kinh tế là:“khả năng của đơn vị trong việc sử dụng lợi ích kinh tế do nguồn lực đó mang lại nhằm đạt mục tiêu của đơn vị, hoặc quyền từ chối hay điều khiển việc sử dụng lợi ích kinh tế từ nguồn lực đó đối với đơn vị khác”[2]. 8 Thông thƣờng những nguồn lực kinh tế thuộc quyền sở hữu của đơn vị thì cũng thuộc quyền kiểm soát của đơn vị.
Tuy nhiên, có những nguồn lực kinh tế không thuộc quyền sở hữu của đơn vị, nhƣng thuộc quyền kiểm soát của đơn vị và có thế mang lại lợi ích kinh tế cho đơn vị trong tƣơng lai thì vẫn đƣợc xem là tài sản của đơn vị. Tài sản đƣợc biểu hiện dƣới hình thái vật chất nhƣ tiền, hàng tồn kho, nhà xƣởng, máy móc, thiết bị. hoặc không thể hiện dƣới hình thái vật chất nhƣ bản quyền, bằng sáng chế. nhƣng phải thu đƣợc lợi ích kinh tế trong tƣơng lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp.
Tài sản của doanh nghiệp còn bao gồm các loại tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhƣng doanh nghiệp kiểm soát đƣợc và thu đƣợc lợi ích kinh tế trong tƣơng lai, nhƣ tài sản thuê tài chính; hoặc có những tài sản thuộc quyền sở hữu doanh nghiệp và thu đƣợc lợi ích kinh tế trong tƣơng lai nhƣng có thể không kiểm soát đƣợc về mặt pháp lý, nhƣng bí quyết kỹ thuật thu đƣợc từ hoạt động triển khai có thể thỏa mãn các điều kiện trong định nghĩa về tài sản khi các bí quyết đó còn giữ đƣợc bí mật và doanh nghiệp còn thu đƣợc lợi ích kinh tế. Tài sản của doanh nghiệp đƣợc hình thành từ các giao dịch hoặc các sự kiện đã qua, nhƣ góp vốn, mua sắm, tự sản xuất, đƣợc cấp, đƣợc biếu tặng. Các giao dịch hoặc các sự kiện dự kiến sẽ phát sinh trong tƣơng lai không làm tăng tài sản.Phân loại tài sản của doanh nghiệp Tài sản đƣợc sử dụng trong một đơn vị bao gồm nhiều loại với đặc điểm và vai trò khác nhau trong quá trình hoạt động. Tài sản trong đơn vị cần đƣợc phân loại theo đặc điểm luân chuyển về mặt giá trị để quản lý phù hợp với đặc điểm của từng loại tài sản.
Theo cách phân loại này, tài sản của đơn vị đƣợc chia thành tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. 9 Tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn (TSNH) là tài sản có thời gian luân chuyển hoặc đƣợc thu hồi trong một chu kỳ kinh doanh bình thƣờng hoặc trong vòng 12 tháng. Chu kỳ kinh doanh là khoảng thời gian từ lúc chi tiền mua vật tƣ, hàng hóa dự trữ cho sản xuất kinh doanh cho đến khi bán thành phẩm, hàng hóa hay cung cấp dịch vụ thu đƣợc tiền. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thƣờng trong vòng 12 tháng và đơn vị hành chính sự nghiệp, tài sản ngắn hạn là tài sản đƣợc thu hồi trong vòng 12 tháng.
Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thƣờng dài hơn 12 tháng, tài sản ngắn hạn là tài sản đƣợc thu hồi trong vòng một chu kỳ kinh doanh bình thƣờng. Chu kỳ kinh doanh của các đơn vị thƣờng ngắn hơn 12 tháng và khó có thể đo lƣờng đƣợc nên các đơn vị thƣờng chọn 12 tháng là thời gian để phân biệt tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền, khoản phải thu có thời hạn thanh toán trong vòng 12 tháng, nguyên liệu, vật liệu, thành phẩm, hàng hóa,. Xét theo khả năng chuyển hóa thành tiền giảm dần, tài sản ngắn hạn bao gồm những loại sau: + Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền là loại tài sản không thể thiếu trong quá trình hoạt động của mọi đơn vị nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ đến hạn và nhu cầu chi tiêu hàng ngày.
Tiền của đơn vị bao gồm tiềm mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Hình thức biểu hiện của tiền có thể là đồng Việt Nam, ngoại tệ, vàng, bạc, kim khí quí, đá quí. Các khoản tƣơng đƣơng tiền là các khoản đầu tƣ vào các loại chứng khoán ngắn hạn nhƣ: kỳ phiếu ngân hàng, tín phiếu kho bạc,. có thời hạn thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng kể từ ngày mua, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lƣợng tiền xác định và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền.