Chương 1. Cơ sở lý luận về công chức và sử dụng công chức trong các cơ quan HCNN. Thực trạng sử dụng công chức tại các cơ quan HCNN trên địa bàn tỉnh Tiền Giang. - Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng công chức tại các cơ quan HCNN trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
10 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨC VÀ SỬ DỤNG CÔNG CHỨC TRONG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC CẤP TỈNH 1. Cơ quan hành chính nhà nƣớc Bộ máy nhà nước là một chỉnh thể thống nhất, được tạo thành bởi các cơ quan nhà nước. Bộ máy nhà nước Việt Nam gồm ba hệ thống cơ quan chính: cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo Hiến pháp năm 2013, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Quốc hội được Hiến pháp xác nhận là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, không chỉ thiết lập ra các hệ thống cơ quan nhà nước mà còn là cơ quan chỉ đạo, giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước; Chính phủ với tư cách là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp. Chính phủ có vai trò rất quan trọng trong thống nhất quản lý nền HCNN của quốc gia và thực thi các văn bản mà Quốc hội ban hành. Như vậy, theo nghĩa chung nhất, cơ quan HCNN là một bộ phận của bộ máy nhà nước, được thành lập theo Hiến pháp và pháp luật, để thực hiện quyền lực nhà nước, có chức năng quản lý HCNN trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hệ thống các cơ quan HCNN giữ vai trò quan trọng và là điều kiện thiết yếu để tiến hành các hoạt động hành chính công.
Nếu không có một hệ thống các cơ quan HCNN với chức năng cụ thể, rõ ràng thì các hoạt động hành chính không thể diễn ra một cách đồng bộ và hiệu quả. 11 Luan van Do là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước nên cơ quan HCNN cũng mang đầy đủ các đặc điểm chung của các cơ quan nhà nước như: Một là, cơ quan HCNN hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, được tổ chức và hoạt động trên nguyên tắc tập trung dân chủ. Hai là, mỗi cơ quan HCNN đều có một thẩm quyền nhất định, thẩm quyền này do pháp luật quy định. Đó là tổng thể những quyền và nghĩa vụ cụ thể mang tính quyền lực, được nhà nước trao cho để thực hiện nhiệm vụ, chức năng của mình.
Ba là, hệ thống cơ quan HCNN có cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. Nói cách khác, cơ quan HCNN có tính độc lập tương đối về cơ cấu tổ chức. Cơ cấu tổ chức của cơ quan HCNN được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật như Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Chính quyền địa phương… Bốn là, về mặt thẩm quyền thì cơ quan HCNN được quyền đơn phương ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính và văn bản đó có hiệu lực bắt buộc đối với các đối tượng có liên quan; cơ quan HCNN có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với các đối tượng chịu sự tác động, quản lý của cơ quan HCNN. Ngoài những đặc điểm chung nói trên, cơ quan HCNN còn có những đặc điểm riêng như sau: Một là, cơ quan HCNN có chức năng quản lý HCNN, thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và chỉ có các cơ quan HCNN thực hiện hoạt động QLNN trên tất cả các lĩnh vực: QLNN về kinh tế, QLNN về văn hóa, QLNN về trật tự an toàn xã hội… Hai là, cơ quan HCNN nói chung là cơ quan chấp hành, điều hành của cơ quan quyền lực nhà nước.
Thẩm quyền của các cơ quan HCNN chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành và điều hành. 12 Luan van Ba là, hệ thống các cơ quan HCNN được thành lập từ Trung ương đến cơ sở, đứng đầu là Chính phủ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, được tổ chức theo hệ thống thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về tổ chức và hoạt động nhằm thực thi quyền quản lý HCNN. Bốn là, hoạt động của cơ quan HCNN mang tính thường xuyên, liên tục và tương đối ổn định. Là cầu nối đưa chính sách, pháp luật vào cuộc sống.
Tóm lại, cơ quan HCNN là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, trong phạm vi thẩm quyền của mình thực hiện hoạt động chấp hành, điều hành và tham gia chính yếu vào hoạt động QLNN, nhằm duy trì sự ổn định và phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội, có cơ cấu tổ chức và phạm vi theo luật định. Tại Việt Nam, hệ thống các cơ quan HCNN, theo Hiến pháp năm 2013 ghi nhận, gồm có: - Chính phủ là cơ quan HCNN cao nhất; - Ủy ban nhân dân là cơ quan HCNN ở địa phương. Theo cách phân loại phổ biến nhất, hệ thống cơ quan HCNN gồm các cơ quan HCNN ở trung ương và các cơ quan HCNN ở địa phương. Chính quyền địa phương ở Việt Nam được tổ chức theo 03 cấp, bao gồm cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
UBND do HĐND cùng cấp bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, có chức năng và nhiệm vụ chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND cùng cấp. Nhiệm vụ và quyền hạn của UBND được quy định cụ thể trong Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 (Điều 8). Như vậy, UBND có vị trí pháp lý riêng nhưng gắn bó mật thiết với HĐND. Với vị trí như vậy, UBND có hai tư cách thống nhất: 13 Luan van Một là, là cơ quan chấp hành của HĐND, UBND chịu trách nhiệm thi hành những Nghị quyết của HĐND, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND.
Hai là, là cơ quan HCNN ở địa phương, UBND không chỉ chấp hành những Nghị quyết của HĐND mà cả những quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên. UBND chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp và Chính phủ. Trong luận văn này tập trung nghiên cứu việc sử dụng công chức tại các cơ quan HCNN cấp tỉnh tại tỉnh Tiền Giang. Cơ quan hành chính nhà nƣớc cấp tỉnh Hiện nay, chưa có VBQPPL nào quy định cụ thể cơ quan HCNN bao gồm những cơ quan nào.
Hiến pháp năm 2013 chỉ ghi nhận: Chính phủ là cơ quan HCNN cao nhất và UBND là cơ quan HCNN ở địa phương. Như vậy, theo cách hiểu thông thường, thì cơ quan HCNN cấp tỉnh gồm có: 1. UBND tỉnh, là cơ quan HCNN cao nhất tại địa phương. Đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ.
Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và các cơ quan thuộc cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh. - Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND tỉnh: Được quy định tại Luật Tổ chức Chính quyền địa phương như sau: + Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định các nội dung theo quy định và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh. + Quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh. + Tổ chức thực hiện ngân sách tỉnh, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, phát triển công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, du lịch, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, mạng lưới giao thông, thủy lợi; thực hiện các 14 Luan van biện pháp quản lý, sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác; thực hiện các biện pháp phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh trong phạm vi được phân quyền.
+ Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án, đề án của tỉnh đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. + Thực hiện các biện pháp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên địa bàn tỉnh; chỉ đạo thực hiện kế hoạch xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trên địa bàn tỉnh; tổ chức giáo dục quốc phòng, an ninh và công tác quân sự địa phương… + Thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, xây dựng chính quyền và địa giới hành chính, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp và các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. + Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước ở trung ương phân cấp, ủy quyền. + Phân cấp, ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp dưới, cơ quan, tổ chức khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân tỉnh.
- Nhiệm vụ, quyền hạn các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh: Được quy định tại Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi tắt Nghị định số 24/2014/NĐ-CP), gồm các nội dung cơ bản như sau: 15 Luan van + Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Dự thảo quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước được giao; + Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến, giáo dục, theo dõi thi hành pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước được giao. + Tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về giám định, đăng ký, cấp giấy phép, văn bằng, chứng chỉ thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.