Chương 1: Cơ sở lý luận về doanh nghiệp và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chương 2: Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần xây lắp điện Việt Tiến từ năm 2010-2014. Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây lắp điện Việt Tiến. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Doanh nghiệp và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về doanh nghiệp “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.1] Trong đó, theo điều 4 của Luật doanh nghiệp 2005 giải thích: Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận.2] Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều các loại hình doanh nghiệp với các loại hình kinh doanh khác nhau, thường thì có các loại hình kinh doanh như: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, nhóm công ty,… việc thành lập công ty để kinh doanh cũng trở lên đơn giản hơn bởi các dịch vụ tư vấn thành lập công ty rất phổ biến trên thị trường hiện nay. Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm thoả mãn nhu cầu của con người và xã hội và thông qua hoạt động hữu ích đó để kiếm lời.4] Tổ chức kinh tế bao gồm doanh nghiệp được thành lập hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH, 5 công ty hợp danh); Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã được thành lập theo Luật hợp tác xã; các tổ chức kinh tế thành lập theo luật đầu tư.
Đặc điểm này phân biệt doanh nghiệp với cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang và các tổ chức khác như tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội. Doanh nghiệp là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân.5] Tư cách pháp nhân là để phân biệt giữa cá nhân và tổ chức, tư cách pháp nhân nó xác định chủ thể trong các giao dịch là ai, quyền và nghĩa vụ của họ như thế nào. Theo Điều 84, Pháp nhân: Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: 1. Được thành lập hợp pháp; 2.
Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 3. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; 4. Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do nhà nước khẳng định và xác định.
Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế quốc dân) gắn liền với địa phương nơi nó tồn tại. Doanh nghiệp là một tổ chức sống vì lẽ nó có quá trình hình thành từ một ý chí và bản lĩnh của người sáng lập (tư nhân, tập thể hay Nhà nước); quá trình phát triển thậm chí có khi tiêu vong, phá sản hoặc bị một doanh nghiệp khác thôn tính. Vì vậy cuộc sống của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng quản lý của những người tạo ra nó. 6 Doanh nghiệp ra đời và tồn tại luôn luôn gắn liền với một vị trí của một địa phương nhất định, sự phát triển cũng như suy giảm của nó ảnh hưởng đến địa phương đó.
Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp "Hiệu quả sản xuất kinh doanh" là một phạm trù khoa học của kinh tế vi mô cũng như nền kinh tế vĩ mô nói chung. Nó là mục tiêu mà tất cả các nhà kinh tế đều hướng tới với mục đích rằng họ sẽ thu được lợi nhuận cao, sẽ mở rộng được doanh nghiệp, sẽ chiếm lĩnh được thị trường và muốn nâng cao uy tín của mình trên thương trường.12] Nhưng để hiểu được cụ thể về hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh thì chúng ta cần phải hiểu: hiệu quả kinh tế nói chung cũng như hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh như thế nào? Về mặt này có rất nhiều quan điểm khác nhau của các nhà kinh tế cụ thể như một vài quan điểm mang tính chất hiện đại. Có quan điểm cho rằng: "Hiệu quả sản xuất kinh doanh diễn ra khi xã hội không tăng sản lượng một loại hàng hoá mà cũng không cắt giảm một loại hàng hoá khác.
Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó". Thực chất quan điểm này muốn đề cập đến vấn đề phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội. Trên phương diện này, việc phân bổ các nguồn lực của nền kinh tế sao cho việc sử dụng mọi nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả. Một số tác giả khác lại cho rằng "Hiệu quả sản xuất kinh doanh thể hiện ngay tại hiệu số giữa doanh thu và chi phí, nếu doanh thu lớn hơn chi phí thì kết luận doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả.
Ngược lại doanh thu nhỏ hơn chi phí tức là doanh nghiệp làm ăn thua lỗ" quan điểm này đánh giá một cách chung chung hoạt động của doanh nghiệp, giả dụ như: Doanh thu lớn 7 hơn chi phí, nhưng do khách hàng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp do vậy tiền chi lại lớn hơn doanh thu thực tế, khi đó doanh nghiệp bị thâm hụt vốn, khả năng chi trả kém cũng có thể dẫn đến khủng hoảng mà cao hơn nữa là có thể bị phá sản. Cũng có tác giả cho rằng "Hiệu quả sản xuất kinh doanh được xác định bởi quan hệ tỉ lệ Doanh thu/Vốn hay lợi nhuận/vốn." quan điểm này nhằm đánh giá khả năng thu hồi vốn nhanh hay chậm, khả năng sinh lời của một đồng vốn bỏ ra cao hay thấp, đây cũng chỉ là những quan điểm riêng lẻ chưa mang tính khái quát thực tế. Nhiều tác giả khác lại đề cập đến hiệu quả kinh tế ở dạng khái quát, họ coi: "hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỉ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó". Quan điểm này đánh giá được tốt nhất trình độ lợi dụng các nguồn lực ở mọi điều kiện "động" của hoạt động kinh tế.
Theo quan điểm này thì hoàn toàn có thể tính toán được hiệu quả kinh tế cùng sự biến động và vận động không ngừng của các hoạt động kinh tế, chúng phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động khác nhau.16] Qua các định nghĩa cơ bản về hiệu quả kinh tế đã trình bày trên. Chúng ta cũng hiểu được rằng Hiệu quả kinh tế hay hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế nó phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, khoa học công nghệ và vốn) nhằm đạt được mục tiêu mong đợi mà doanh nghiệp đã đặt ra. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp [1], [7] a) Doanh lợi của toàn bộ vốn kinh doanh Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp; một đồng vốn tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Nó phản ánh trình độ lợi dụng yếu tố vốn của doanh nghiệp. 8 Doanh lợi vốn kinh doanh được xác định theo công thức: (Π R + TLVV ) D VKD (% ) = ×100 (1.1) V KD Trong đó: DVKD(%): doanh lợi của toàn bộ vốn kinh doanh của một thời kỳ. ΠR : lãi ròng thu được của thời kỳ tính toán. TLVV : lãi trả vốn vay của thời kỳ đó.
VKD : tổng vốn kinh doanh bình quân của kỳ tính toán. b) Doanh lợi của vốn tự có ΠR DVTC (%) = ×100 (1.2) V TC Trong đó: DVTC: doanh lợi vốn tự có của thời kỳ tính toán. VTC : tổng vốn tự có bình quân của thời kỳ đó. c) Doanh lợi của doanh thu ΠR D TR (%) = ×100 (1.3) TR Trong đó: DTR: doanh lợi của doanh thu bán hàng của một thời kỳ.
TR : doanh thu bán hàng của thời kỳ tính toán đó. d) Hiệu quả kinh doanh tiềm năng TN CP KD Tt H (%) = ×100 (1.4) CP KD KH Trong đó: HTN : hiệu quả kinh doanh tiềm năng. CPKDTt : chi phí kinh doanh thực tế phát sinh trong kỳ. CPKDKH: chi phí kinh doanh kế hoạch.
9 e) Sức sản xuất của một đồng vốn kinh doanh TR S SX VKD = (1.5) V KD Trong đó: SSX VKD: sức sản xuất của một đồng vốn kinh doanh. f) Sức sản xuất của một đồng chi phí kinh doanh TR S SX CPKD (%) = (1.6) CP KD Trong đó: SSXCPKD: sức sản xuất của 1 đồng chi phí kinh doanh. Một số chỉ tiêu hiệu quả từng lĩnh vực [7], [9] a) Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động * Chỉ tiêu sức sinh lời bình quân của lao động: ΠR Π BQ LD = (1.7) LBQ Trong đó: Π BQ LD : lợi nhuận bình quân do một lao động tạo ra trong kỳ. LBQ : số lao động bình quân của kỳ tính theo phương pháp bình quân gia quyền.
* Năng suất lao động: K NS BQ LD = (1.8) LBQ Trong đó: NSBQLĐ: Năng suất lao động bình quân của kỳ tính toán K : Kết quả của kỳ tính bằng đơn vị hiện vật hay giá trị. * Chỉ tiêu hiệu suất tiền lương: ΠR S SX TL = (1.9) ∑ TL Trong đó: SSXTL : hiệu suất tiền lương của một thời kỳ tính toán. 10 ∑ TL : tổng quỹ tiền lương và tiền thưởng có tính chất như lương trong kỳ. b) Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định và tài sản cố định * Sức sinh lời của 1 đồng vốn cố định: ΠR Π BQVCD = (1.