CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH KHOẢN VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NHTM 1. Thanh khoản của NHTM 1. Khái niệm thanh khoản Thanh khoản của ngân hàng được hiểu đơn giản là khả năng của ngân hàng trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng.180] Một NHTM được xem là có khả năng thanh khoản tốt nếu như nó có thể có được những khoản vốn khả dụng với chi phí thấp đúng tại thời điểm ngân hàng có nhu cầu. Nghĩa là ngân hàng có khả năng thanh khoản tốt khi ngân hàng có sẵn một lượng vốn khả dụng với quy mô hợp lý hoặc ngân hàng có thể nhanh chóng huy động vốn thông qua con đường vay nợ hay bán tài sản.
415] Thanh khoản là một nội dung quản lý đặc biệt phức tạp trong công tác quản trị ngân hàng, khi mà dòng tiền vào, dòng tiền ra phát sinh không lường trước được, thay đổi liên tục hàng ngày, hàng giờ. Yếu tố thời gian của vấn đề thanh khoản Xét về thời gian, nhu cầu thanh khoản của một ngân hàng bao gồm cả trong ngắn hạn và dài hạn. 482] Nhu cầu thanh khoản ngắn hạn mang tính tức thời hoặc gần như thế. Các khoản tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi có kỳ hạn đến hạn, các công cụ huy động thuộc thị trường tiền tệ.
nằm trong phạm vi nhu cầu thanh khoản ngắn hạn. Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản thuộc loại này, đòi hỏi ngân hàng phải duy trì ở mức độ khá lớn các loại tài sản có tính thanh khoản cao (tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHNN và các định chế tài chính khác, chứng khoán Chính phủ. Nhu cầu thanh khoản dài hạn do các nhân tố mang tính chất thời vụ, chu kỳ và xu hướng tạo ra. Chẳng hạn nhu cầu rút tiền hay vay mượn của cá nhân thường đặc biệt tăng cao vào các ngày cận kề với các dịp lễ hội trong năm để trang trải chi tiêu, mua sắm.
Để đáp ứng loại nhu cầu thanh khoản này, đòi hỏi ngân hàng cần phải dự phòng trước khả năng cung cấp vốn từ nhiều nguồn khác nhau và ở mức độ cao hơn 123doc 2 so với nhu cầu thanh khoản ngắn hạn. Ví dụ như lập kế hoạch thu hút các khoản tiền gửi mới, thỏa thuận vay dài hạn từ công chúng hoặc từ quỹ dự trữ của các ngân hàng khác. Do yếu tố thời gian là mang tính quyết định: làm thế nào, khi nào và ở đâu có thể tiếp cận các nguồn cung cấp thanh khoản mỗi khi cần đến. Hầu hết các vấn đề về thanh khoản đều phát sinh từ bên ngoài ngân hàng, do những hoạt động tài chính của khách hàng.
Trên thực tế, các vấn đề về thanh khoản của khách hàng thường dồn chuyển về cho ngân hàng. Nếu khách hàng thiếu hụt trong dự trữ thanh khoản, có thể sẽ thực hiện vay vốn ngân hàng hoặc rút tiền khỏi tài khoản tiền gửi. Cả hai điều này đều buộc ngân hàng phải đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung. Cung và cầu thanh khoản Cung thanh khoản: Cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm: - Các khoản tiền gửi sẽ nhận được - Thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ - Các khoản tín dụng hoàn trả - Các khoản vay từ thị trường tiền tệ - Các khoản bán tài sản Cầu thanh khoản: Cầu thanh khoản là c á c nhu cầu vốn cho các hoạt động khác nhau của ngân hàng, các khoản làm giảm ngân quỹ của ngân hàng, bao gồm: - Chi trả tiền gửi cho khách hàng - Cấp tín dụng cho khách hàng - Hoàn trả các khoản vay từ thị trường tiền tệ - Chi phí cho quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ ngân hàng - Chi trả cổ tức 1.
Ðánh giá trạng thái thanh khoản Những nguồn cung và cầu thanh khoản đa dạng nêu trên là yếu tố quyết định trạng thái thanh khoản ròng hay khe hở thanh khoản tại bất cứ thời điểm nào. 123doc 3 Trạng thái thanh khoản ròng NPL tại thời điểm t của một ngân hàng đuợc xác định như sau: NPL = Tổng cung về thanh khoản - Tổng cầu về thanh khoản Có ba khả năng có thể xảy ra sau đây: Thặng dư thanh khoản: Khi cung thanh khoản vuợt quá cầu thanh khoản (NPL>0), ngân hàng đang ở trạng thái thặng dư thanh khoản. Nhà quản trị ngân hàng phải cân nhắc đầu tư số vốn thặng dư này vào đâu để mang lại hiệu quả cho tới khi chúng cần đuợc sử dụng đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tuơng lai. Thâm hụt thanh khoản: Khi cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản (NPL<0), ngân hàng phải đối mặt với tình trạng thâm hụt thanh khoản.
Nhà quản trị phải xem xét, quyết định nguồn tài trợ thanh khoản lấy từ đâu, bao giờ thì có và chi phí bao nhiêu. Cân bằng thanh khoản: Khi cung thanh khoản cân bằng với cầu thanh khoản (NPL=0), tình trạng này đuợc gọi là cân bằng thanh khoản, đây là trạng thái hoàn hảo nhưng rất khó đạt được trong thực tế hoạt động của ngân hàng. Rủi ro thanh khoản 1. Khái niệm rủi ro thanh khoản Peter Rose (2001) có đề cập đến vấn đề thanh khoản của ngân hàng như là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu của các nhà quản lý.
Tác giả cũng định nghĩa trong chương “ Phân tích và đánh giá hoạt động ngân hàng”, RRTK là tình trạng thiếu tiền mặt và không có khả năng vay mượn để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi, yêu cầu vay vốn và những yêu cầu về tiền mặt khác. Theo đó, đối mặt với RRTK, một ngân hàng buộc phải vay “nóng” với mức chi phí cao để chi trả cho những yêu cầu về tiền mặt cấp bách và do vậy làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Ngoài ra, các ngân hàng sẽ phải bán các chứng khoán trước khi đến hạn làm giảm thu nhập trung bình của mình.208] Cũng đề cập tới vấn đề thanh khoản, Rudolf Duttweiler (2010) cho rằng thiếu khả năng thanh khoản nghĩa là ngân hàng bị hạn chế trong việc thực hiện các nghĩa vụ thanh toán, và đối mặt với RRTK là ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ không 123doc 4 thể thực hiện các nghĩa vụ thanh toán, theo đó việc không thể thực hiện này sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn.37] Như vậy, RRTK là tổn thất xảy ra cho ngân hàng khi ngân hàng không có khả năng thanh toán hoặc phải huy động nguồn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản 1.
Nguyên nhân khách quan Sự mất ổn định yếu tố vĩ mô của nền kinh tế Hoạt động kinh doanh của NHTM luôn gắn liền với những biến động của môi trường kinh doanh xung quanh nó. Các yếu tố về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội luôn có tác động trực tiếp và gián tiếp tới các quyết định và phương hướng kinh doanh của một NHTM. Thực tế đã chứng minh mất ổn định kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế sẽ tạo ra khủng hoảng tiền tệ, khủng hoảng thị trường tài chính và hiển nhiên là gây ra RRTK cho hệ thống các NHTM. Do sự suy giảm về niềm tin của khách hàng Với hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng là “đi vay” để “cho vay”; nguồn vốn đi vay và huy động được từ khách hàng chủ yếu dựa trên niềm tin, sự tín nhiệm.
Chính vì vậy, suy giảm niềm tin ảnh hưởng trực tiếp làm hạn chế dòng vốn tiền gửi của các thành phần kinh tế vào các NHTM cũng như gia tăng nhanh chóng các dòng tiền rút ra và tác động hiệu ứng ngay tới RRTK. Thật vậy, các BCTC về một ngân hàng kinh doanh lỗ liên tục cùng với các khoản cho vay xấu tích luỹ lại khiến người gửi tiền trở nên dễ dàng hoảng sợ, rút tiền hàng loạt, làm cho ngân hàng mất khả năng chi trả, phải đóng cửa. Nguyên nhân từ các tin đồn gây ra thông tin bất lợi cho ngân hàng Các tin đồn thất thiệt gây mất uy tín cho ngân hàng, tác động tâm lý số đông làm cho người dân hoang mang lo lắng và rút tiền ồ ạt dẫn đến nhu cầu thanh khoản tăng đột biến vượt quá khả năng cung thanh khoản. Đây là một trong những tình trạng khá phổ biến dẫn đến ngân hàng mất khả năng thanh toán mà hậu quả của nó 123doc 5 lan rộng tới các ngân hàng khác và tới toàn hệ thống nếu không có biện pháp chặn đứng kịp thời.
RRTK xuất phát từ sự nhạy cảm đối với lãi suất Khi lãi suất tăng, nhiều người gửi tiền sẽ rút tiền ra tìm kiếm nơi gửi khác có mức lãi suất cao hơn. Những người có nhu cầu tín dụng sẽ hoãn lại, hoặc rút hết số dư hạn mức tín dụng với mức lãi suất thấp đã thoả thuận, giảm tối đa việc vay mới để tránh trả lãi nhiều hơn. Khi lãi suất giảm thì phản ứng ngược lại. Như vậy, thay đổi lãi suất ảnh hưởng đồng thời đến luồng tiền gửi cũng như luồng tiền vay, và cuối cùng là đến thanh khoản của ngân hàng.
Ngoài ra, lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng đến thị giá của các tài sản mà ngân hàng đem bán để tăng thêm nguồn cung thanh khoản, và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí đi vay trên thị trường tiền tệ của ngân hàng. Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng Thứ nhất, sự tăng trưởng tín dụng quá nóng của các NHTM đi kèm với cơ cấu đầu tư không hợp lý hoặc sử dụng quá nhiều nguồn vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn dẫn đến sự mất cân đối về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ. Thứ hai, các NHTM có chiến lược quản trị RRTK không phù hợp và kém hiệu quả, mất cảnh giác đối với vấn đề thanh khoản, đó là sự yếu kém từ công tác quản trị tài sản nợ, tài sản có và sự thiếu hụt các công cụ quản lý hữu hiệu, không nắm giữ hoặc nắm giữ không đủ các tài sản có tính thanh khoản cao, dự trữ không đủ nhu cầu chi trả, không duy trì hợp lý hạn mức tín dụng dự phòng từ các TCTD khác hoặc hạn mức tái cấp vốn từ NHNN … Hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ yếu kém. Thứ ba, quy mô vốn của ngân hàng còn nhỏ, chưa tạo được uy tín thương hiệu trên thị trường nên khó tiếp cận các nguồn vốn từ dân cư, từ các đối tác khác trong và ngoài nước.