Chương 1 Cơ sở lý luận về hiệu quả quản lý thu thuế GTGT LI. — Khái quát về thuế GTGT. Khái niệm thuế và thuế GTGT. Hiện nay trên thế giới chưa có sự thống nhất các khái niệm về thuế.
Đứng trên những góc độ khác nhau lại có sự hiểu khác nhau về thuế. Dưới góc độ phân phối lại nguồn thu nhập: “ Thué là hình thức phân phối lại tong sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước dé đáp ứng các nhu cau chỉ tiêu của Nhà nước”. Dưới góc độ của người nộp thuế (NNT): “Thuế là khoản nộp bắt buộc mà mỗi to chức, cá nhân phải có trách nhiệm đóng góp cho Nhà nước theo luật định nhằm dap ứng nhu câu chỉ tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. ” Dưới góc độ kinh tế: “Thuế là một phương pháp đặc biệt, nhờ đó, nhà nước sử dụng quyên hạn của mình để chuyển một phan nguôn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước.
” “Thuế là một công cụ tác động vào sự phân bổ nguôn lực trong xã hội”. Trên khía cạnh tiêu dùng, thuế đã chuyển đổi tiêu dùng từ trang thái tiêu dùng cá nhân sán trạng thái tiêu dùng công cộng. Thứ nhất, thuế làm giảm thu nhập tiêu dùng của cá nhân, từ đó làm giảm nhu cầu mua sắm của họ. Thứ hai, thuế nộp vào NSNN được dùng cho hoạt động xây dựng và cung cấp các phúc lợi xã hội và công cộng cho nhân dân sử dụng.
Dưới góc độ sản xuất, thuế còn tác động vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, khiến các cá nhân muốn đầu tư vào các lĩnh vực được ưu đãi thuế hơn là các ngành chịu thuế suất cao. Do đó bằng việc áp thuế, Nhà nước có thê tác động đến cơ cau nền kinh tế bang việc điều chỉnh cơ chế ưu đãi thuế trên các lĩnh vực. Từ các góc độ đã nêu trên, ta có thé đưa ra khái niệm chung nhất về thuế: “Thuế là khoản thu bắt buộc các cá thể, tổ chức phải nộp cho Nhà nước nhằm sử dụng vào những mục đích công cộng.” Thuế có những thuộc tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc điểm riêng có của nó, qua đó giúp ta phân biệt thuế với các công cụ khác. Thứ nhất, nó mang tính bắt buộc, chứ không có tính tự nguyện, trong khi đó giá cả hàng hóa lại là sự trao đổi theo nguyên tắc “thuận mua vừa bán” giữa hai bên người mua và người bán.
Thứ hai, thuế là sự đóng góp của cá nhân cho lợi ích chung của cộng đồng, và họ sẽ nhận lại được lợi ích đó thông qua các khoản chỉ tiêu của Chính phủ, nhưng mức lợi ích họ nhận được không nhất thiết phải tăng lên theo mức đóng góp. Cu thé, nếu thuế được đánh theo nguyên tắc khả năng thanh toán, thì người nghèo sẽ phải chịu thuế ít hơn người nghèo, nhưng khi Chính phủ thực hiện các chương trình chi tiêu lại thường chú trọng ưu tiên cho người nghèo. Hiện nay nhà nước ta ban hành một cơ chế tính và thu nhiều loại thuế khác nhau, tùy thuộc vào từng đối tượng chịu thuế. Ba loại thuế chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn thu ngân sách của Nhà nước hiện nay, đó là: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và thuế giá trị gia tăng.
Nâng cao hiệu quả thu thuế hiện nay là một trong những nhiệm vụ đề ra hàng đầu của các cơ quan thuế, đặc biệt trong công tác quản lý thu thuế GTGT. Thuế GTGT là một loại thuế gián thu phổ thông tính trên giá tri tăng lên của hàng hóa - dịch vụ phát sinh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Thuế GTGT được áp dụng tại Việt Nam thay thế cho thuế doanh thu đã khăng định được kết quả về số thu nộp vào NSNN và tác dụng khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển, đảm bảo thích hợp với thông lệ quốc tế và đổi mới công tác quản lý thu thuế của ngành thuế. Đối tượng chịu thuế GTGT: Tất cả dịch vụ và hàng hóa được sản xuất và tiêu dùng tại Việt Nam, gồm cả hàng hóa nước ngoài nhập khẩu và tiêu dùng tại Việt Nam.
Trừ những thứ được miễn giảm thuế theo quy định của pháp luật. Đối tượng nộp thuế GTGT: Tắt cả các tô chức, cá nhân sản xuất, vận chuyên và kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật, bao gồm các tổ chức nhập khẩu hàng hóa - dịch vụ nước ngoài thuộc diện phải chịu thuế GTGT tiêu dùng tại Việt Nam. Căn cứ tính thuế GTGT: Giá tính thuế và thuế suất. Giá tính thuế là giá chưa có thuế GTGT ghi trên hóa đơn bán hàng hoặc giá chưa thuế trên chứng từ nhập khẩu.
Thuế suất được pháp luật quy định theo từng loại hàng hóa - dịch vụ. Các mức thuế suất hiện nay đang được áp dụng tại Việt Nam: 0%, 5%, 10%. Phương pháp tính thuế GTGT: Có hai phương pháp: Phương pháp khấu trừ thuế hoặc phương pháp tính trực tiếp. Khi sử dụng phướng pháp khấu trừ thuế, thuế GTGT sẽ được tính như sau: Thuế GTGT phải nộp trong ki = Thuế GTGT đầu ra - Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ Căn cứ theo công thức trên , ta nhận thấy các tính này phải xác định được thuế GTGT đầu vào, vì vậy chỉ những hoặt động sản xuất kinh doanh xác định được thuế GTGT đầu vào mới có thê áp dụng phương pháp tính này.
Có hai cách tính thuế GTGT trực tiếp: Tính trực tiếp trên doanh thu và tính trên GTGT. e Khi tính trên doanh thu áp dụng công thức: Thuế phải nộp = DT x tỷ lệ % Trong đó: - Tỷ lệ %: là tỷ lệ % để tính thuế GTGT trên DT, được quy định theo từng nhóm hàng hóa - dịch vụ như sau: + Hoạt động cung cấp và phân phối hàng hóa: tỉ lệ 1%, bao gồm các loại hình hoạt động bán buôn - bán lẻ các loại hàng hóa ( trừ trường hợp giá trị hàng hóa tại đại lý bán chuẩn giá được hưởng hoa hồng). + Dịch vụ bao thầu xây dựng không bao gồm nguyên vật liệu: tỉ lệ 5%. e Tính thuế GTGT trên giá trị gia tăng theo công thức: Thuế GTTG phải nộp = Giá trị tăng thêm x thuế suất thuế GTGT Trong đó: - Thuế suất thuế GTGT của đá quý, vàng, bạc là 10%.
- Giá tri tang thêm = Giá thanh toán bán ra — Giá thanh toán mua vào. Phân biệt thuế GTGT với các loại thuế khác trong nền kinh tế thị trường. Phân biệt theo tính chất kinh tế. Cách phân biệt này dựa vào mối quan hệ giữa NNT - người chịu thuế và mức độ ảnh hưởng đến nền kinh tế, từ đó chia ra thành hai loại thuế: Thuế gián thu và thuế trực thu.
Thuế GTGT là một loại thuế gián thu. Thuế gián thu là loại thuế có vai trò điều tiết gián tiếp qua giá của hàng hóa - dịch vụ, NNT không là người chịu thuế. Thuế gián thu trực tiếp ảnh hưởng đến giá cả chung của thị trường bởi vì thuế gián thu được cộng vào giá bán của hàng hóa - dịch vụ. Người nộp thuế là các cơ sở, cá thể hoạt động kinh doanh, còn người chịu thuế lại chính là người tiêu dùng.
Vì thuế gián thu tính trực tiếp vào giá cả của hàng hóa dịch vụ, nên người nộp thuế là người tiêu dùng không chịu quá nhiều áp lực thuế như thuế trực thu. Thuế gián thu được đánh giá là thu rất đơn giản vì thuế đã cộng vào giá hàng hóa - dịch vụ. Chính vì vậy, các cước đang phát triển có nền kinh tế thương mại là chính thường coi thuế gián thu là nguồn thu chính của ngân sách. Ngoài thuế GTGT, còn có một số loại thuế gián thu khác ví dụ: thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế môn bài.
Phân biệt với thuế gián thu là thuế trực thu. Đây là loại thuế tác động trực tiếp đến thu nhập của các tô chức, cá nhân, khi NNT chính là người chịu thuế. Thuế trực thu có ít tác động đến giá cả chung của thị trường vì nó chỉ đánh vào kết quả hoạt động kinh doanh. Một sỐ loại thuế trực thu phổ biến hiện nay là thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế tài san,.
Tính công bang của thuế trực thu cao hơn thuế gián thu, vì mỗi đối tượng có khả năng khác nhau sẽ phải nộp thuế với mức thuế khác nhau. Tuy nhiên, thuế gián thu có nhược điểm là hạn chế sự có gang tăng thu nhập của các đối tượng, vi thu nhập càng cao thì càng phải nộp nhiều thuế; Thuế trực thu yêu cầu người có thu nhập phải trả một cách trực tiếp và có ý thức cho nhà nước, nên họ cảm nhận được gánh nặng về thuế; Việc quản lý thuế này phức tạp hơn và có chỉ phí khá cao so với thuế gián thu. Phân biệt theo đối tượng tính thuế. Theo cách phân biệt này, thuế GTGT thuộc nhóm thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ.
Theo đó, thuế GTGT sẽ được tính vào giá bán của từng dịch vụ, hàng hóa và chính người tiêu dùng hàng hóa sẽ phải nộp khoản thuế này ngay khi mua sản phẩm dịch vụ, hàng hóa. Dựa theo cách phân loại này, thuế GTGT được phân biệt với các loại thuế có đối tượng chịu thuế khác, cụ thể như đối với thuế TNDN và TNCN có đối tượng chiu thuế là thu nhập, thuế nhà đất là loại thuế mà đối tượng tính thuế của nó là tài sản của các tổ chức, cá nhân. Đối tượng tính thuế là sản pham thì có thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu, thuế đánh vào tài sản Nhà nước có thuế tài nguyên,. Các loại thuế trên được áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau dé vừa phát huy tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa hỗ trợ, bồ sung cho nhau nhằm thực hiện một cách tổng hợp các mục tiêu và vai trò của hệ thống pháp luật thuế.
Trong hai cách phân loại trên thì cách phân loại theo đối tượng tính thuế cụ thé và chi tiết hon cách phân loại theo tính chất kinh tế. Thông qua việc phân biệt các loại thuế, các đặc điểm của thuế GTGT đã thé hiện rõ rang hơn. Vai trò của thuế GTGT trong nền kinh tế. Thuế có vai trò vô cùng quan trọng trong xã hội, được coi là chất bôi trơn trong việc thực hiện các hoạt động của Nhà nước.
Trong bối cảnh nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự kiểm soát của Nhà nước, thuế GTGT giữ những vai trò quan trọng.