CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYET VA TONG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 TONG QUAN DE TÀI NGHIÊN CỨU Rủi ro tài chính ngày nay đã trở thành đề tài quan trọng không chỉ của các nhà nghiên cứu mà còn là mối quan tâm của các doanh nghiệp, các nhà hoạch định chính sách, các nhà đầu tư. Các nghiên cứu của nước ngoài Philippe Jorion (1996) — Risk Measuring the Risk in Value at Risk. Nghiên cứu chứng tỏ rằng mặc dù VaR có nhiều ứng dụng trong thực tiễn quản trị rủi ro, nhưng nó vẫn có những hạn chế nhất định. VaR chỉ đúng nếu như nó được đo lường với một số lượng quan sát đủ lớn, tuy nhiên thực tế VaR chỉ phản ánh những biến động từ dữ liệu lịch sử do người tính toán cung cấp, do vậy đôi lúc chuỗi đữ liệu này không bao gồm những biến động lớn trong các cuộc khủng hoảng dẫn đến kết quả tính VaR không chính xác.
Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra các phương pháp đo lương VaR khác nhau sẽ có kết quả khác nhau. Grzegorz Mentel & Jacek Brozyna (2014) - Historical Data in the Context of Risk Prediction. Nghiên cứu đưa ra việc tính toán giá trị VaR dựa trên phương pháp GARCH(1,1) thuộc cách tiếp cận phi tham số. Tác giả đã sử dụng bộ số liệu về chỉ số WIG20 trong khoảng thời gian 3 năm từ 2010 đến 2012 được niêm yết trên thị trường chứng khoán Warsaw, với mẫu được dùng dé ước lượng khoảng 500 quan sát.
Dé tài đã chi ra phương pháp này có thé khắc phục một số hạn chế về những giả định mà VaR truyền thống thường gặp phải và cho ra kết quả khá chính xác. Các nghiên cứu trong nước Trần Mạnh Hà (2010) - Ứng dụng VaR trong việc cảnh bảo và giám sát rủi ro thị trường đối với hệ thống NHTM Việt Nam. Tác giả cho rằng lợi ích lớn nhất của VaR là việc đòi hỏi phải thay đổi suy nghĩ về quản lý rủi ro thị trường đối với những tô chức tài chính áp dụng nó. Thông qua quá trình tính toán VaR sẽ phơi bày rõ hơn về những rủi ro tài chính và do đó thiết lập chức năng quản lý rủi ro thích hợp với bản thân.
Tác giả cũng chỉ ra những hạn chế của VaR như “hiệu ứng đuôi chuông”, khoảng tin cây,. đồng thời cũng đề xuất một số biện pháp khắc phục như sử dụng phép thử Back-test, Stress-test để đảm bảo hệ thống VaR của ngân hàng cho kết quả chính xác. 11171546 — LÊ THỊ HAO 4 Chuyên dé thực tập chuyên ngành Toán kinh tế Đỗ Nam Tùng (2010) - Quản tri rủi ro bằng mô hình VaR mở rộng. Tác giả ứng dụng mô hình VaR dé đo lường mức lỗ tôi đa cho danh mục gồm 2 cô phiếu REE va SAM trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Tác giả cho rằng việc đưa ra các giả định về phân phối chuẩn cho chuỗi lợi suất của mỗi cổ phiếu là chưa chính xác. Do đó, tác giả đã kết hợp thêm mô hình ARMA và GARCH dùng dé hiệu chỉnh chuỗi lợi suất từ đó đưa ra kết quả tính VaR có độ chính xác cao hơn. TONG QUAN LY THUYÉT DANH MỤC CO PHIẾU NIÊM YET 1. Chứng khoán “+ Khái niệm Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành.
Chứng khoán được thé hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi số hoặc dit liệu điện tử, bao gồm: e C6 phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; e Quyền mua cô phan, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chon bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; e Hợp đồng góp vốn dau tư; e Các loại chứng khoán khác do bộ tài chính quy định. (Điều 1, khoản 3 của luật sửa đôi, bổ sung một số điều của luật CK) s* Đặc điểm e Tính thanh khoản (tính lỏng): là khả năng chuyền tài sản đó thành tiền mặt phụ thuộc vào khoảng thời gian và chi phí cần thiết cho việc chuyền đổi. e Tính rủi ro: là sự cố bất lợi có khả năng xảy ra của chứng khoán đối với người chủ sở hữu dẫn tới những thiệt hại, tôn thất cho người sở hữu chứng khoán. e Tính sinh lợi: là khả năng tạo ra thu nhập cho người chủ sở hữu trong những kỳ hạn nhất định 11171546 — LÊ THỊ HAO 5 Chuyên dé thực tập chuyên ngành Toán kinh tế s* Phân loại Căn cứ vào chủ thể phát hành: CK của Chính phủ và chính quyền địa phương CK của doanh nghiệp CK của NHTM và các tô chức tài chính Căn cứ vào tính chất huy động vốn Cổ phiếu (Stock) Trái phiếu (Bond) Chứng chỉ quỹ, CK phái sinh Căn cứ vào mức độ ỗn định lợi tức CK có thu nhập 6n định CK có thu nhập biến đôi Căn cứ vào hình thức chứng khoán CK ghi danh CK không ghi danh Căn cứ vào nơi giao dịch CK niêm yêt CK chưa niêm yết Bang 1.
1: Phân loại cỗ phiếu 1. Cô phiếu niêm yết “> Khái niệm e Niêm yết chứng khoán: là việc đưa các chứng khoán có đủ điều kiện niêm yết vào giao dịch tại SGDCK.Chứng khoán niêm yết gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ đầu tư chứng khoán dai chúng dang đóng, cô phiếu của công ty đầu tư chứng khoán và các loại chứng khoán khác được chấp nhận niêm yết tại SGDCK. e TO chức niêm yết: là tô chức phát hành có chứng khoán niêm yết tại SGDCK. (Trích từ điều 3- Quy chế niêm yết chứng khoán tai SGDCK Tp.
Hồ Chí Minh). s* Điều kiện niêm yết e Là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 120 tỉ đồ Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên số kế toán; _ =——_BD_BÔB____ _ ___ _____ ___ ________________________ễ__Ỷ 11171546 — LÊ THỊ HAO 6 Chuyên dé thực tập chuyên ngành Toán kinh tế e Công khai mọi khoản nợ đối với công ty của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó tổng giám đốc), Kế toán trưởng, cô đông lớn và những người liên quan; e Có ít nhất 02 năm hoạt động dưới hình thức công ty cô phan tính đến thời điểm đăng kí niêm yết (ngoại trừ doanh nghiệp nhà nước cô phan hóa gắn với niêm yết); tỉ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm gần nhất tối thiêu là 5% và hoạt động kinh doanh của hai năm liền trước năm đăng ký niêm yết, tuân thủ các quy định của pháp luật về kế toán, báo cáo tài chính. Danh mục cỗ phiếu niêm yết Danh mục cổ phiếu niêm yết là một danh mục đầu tư với sự kết hợp của hai hoặc nhiều cổ phiếu đủ điều kiện niêm yết trên sàn GDCK nhằm da dạng hóa các vị thế của mình đề hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất. TONG QUAN LÝ THUYET RỦI RO DANH MỤC DAU TƯ 1.
Khái niệm rủi ro Rui ro tồn tại tat yếu trong mọi hoạt động kinh tế. Nó có mối quan hệ mật thiết với mức sinh lời mà tổ chức kinh doanh đạt được trong tương lai. Vấn đề đặt ra không phải việc chủ thé kinh tế có nên tham gia vào hoạt động hàm chứa rủi ro trên thị trường hay không mà là tham gia hoạt động như thế nào cho hiệu quả thông qua việc đánh giá rủi ro để đưa ra tiêu chí quản trị hợp lý. Rủi ro là một vấn đề có tính tương đối.
Rủi ro của người này có thê là may mắn của người khác và ngược lại. Vì vậy có rất nhiều định nghĩa về rủi ro trên nhiều góc độ khác nhau. Sau đây xin đề cập đến một số định nghĩa cơ bản nhất: Theo các nhà toán học xác suất: rủi ro là một biến cố mà nếu nó xảy ra thì sẽ gây tồn that, thiệt hai. Theo các nhà đầu tư chứng khoán: rủi ro trong đầu tư chứng khoán là khả năng xảy ra những kết quả đầu tư ngoài dự kiến hay cụ thê hơn là khả năng làm cho mức sinh lời thực tế nhận được trong tương lai khác với mức sinh lời dự kiến ban đầu.
Phân loại rủi ro danh mục đầu tư Khi đầu tư vào mỗi loại tài sản, ta cũng có thé phân rủi ro thành hai loại: rủi ro hệ thống (rủi ro thị trường) và rủi ro phi hệ thống của các tài sản thành phan. 11171546 — LÊ THỊ HAO 7 Chuyên dé thực tập chuyên ngành Toán kinh tế Rủi ro hệ thống (rủi ro thị trường): là loại rủi ro tác động lên tất cả các tài sản trong danh mục nói riêng và lên tất cả các tài sản cấu thành nên thị trường nói chung. Các nhân tố có thể gây nên loại rủi ro này gồm có giá chứng khoán, lãi vay, ti giá hối đoái hay giá cả các loại hàng hóa căn bản,. Rúi ro phi hệ thống: là những rủi ro đặc trưng riêng của một vài doanh nghiệp: quản lý doanh nghiệp kém, hỏa hoạn phá hủy nhà xưởng hay tiến bộ khoa học kỹ thuật làm một số loại sản phẩm bị lỗi thời.
Rủi ro phi hệ thống có thể loại trừ bằng việc đa dạng hóa. Như vậy, trong việc định lượng rủi ro của danh mục cô phiếu, loại rủi ro mà các NĐT cần tính toán tập trung chủ yếu là rủi ro thị trường. Do lường rủi ro của danh mục đầu tư Rủi ro của DMĐT thường được đo lường bởi độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lời của từng cô phiếu có trong DMĐT. Việc xác định độ lệch chuẩn của lợi suất của từng cổ phiếu trong DMĐT tương đối phức tap do ảnh hưởng của yếu tố hiệp phương sai (Covariance), tức là mối quan hệ giữa rủi ro của các chứng khoán trong DMĐT.
Độ lệch chuẩn của lợi suất của từng cô phiếu trong DMĐT được xác định bởi công thức: Trong đó n là tổng số chứng khoán có trong DMĐT, W, là tỷ trọng của chứng khoán i trong danh mục, W; là tỷ trọng của chứng khoán j trong danh mục va Co0; ; là hiệp phương sai giữa lợi nhuận của chứng khoáni và j. Cov, ; là chỉ tiêu đo lường mức độ quan hệ tuyến tính giữa hai chứng khoán. C ov;,; được xác định bang công thức C Ovi; = p¿j ơi 9; trong đó p¡,; là hệ số tương quan giữa lợi suất của CK i va CK j, ø; là độ lệch chuẩn của TSSL của CKi va a; là độ lệch chuẩn của TSSL của CK j. Khi i=j thì Co, = a).