Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HÓA CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT 1. Một số vấn đề về xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật 1. Khái niệm về xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật * Khái niệm về xã hội hóa Hiện nay, cụm từ xã hội hóa đã và đang được sử dụng rộng rãi trong nhiềulĩnh vực, với nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau, đôi khi có phần trái chiều nhau.
Có quan điểm cho rằng xã hội hóa chính là việc xóa bỏ độc quyền nhà nước trong một lĩnh vực nào đó. Tức là, những lĩnh vực trước đây nhà nước độc quyền cung cấp hàng hóa hay dịch vụ thì nay cần phải được đa dạng hóa người sản xuất và cung cấp dịch vụ. Theo cách hiểu này, xã hội hóa sẽ là một quá trình chuyển giao một phần hay toàn bộ cho khu vực Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Trong quá trình này, Nhà nước đóng vai trò tạo lập hành lang pháp lý và môi trường cạnh tranh lành mạnh để đảm bảo người dân dễ dàng tiếp cận với hàng hóa, dịch vụ.
Tuy nhiên, cách nhìn nhận Xã hội hóa nay mới chỉ dừng lại ở việc xem xét đến chủ thể của việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ chứ chưa bao quát hết được cả một quá trình cung cấp hàng hóa, dịch vụ từ người cung cấp đến người thụ hưởng. Theo tác giả Nguyễn Trần Bạt, 2005. Trang thông tin www. Xã hội hóa có ý nghĩa là xã hội phải tham gia vào hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả đa dạng hóa các hình thức cung cấp dịch vụ, các nguồn đầu tư, đa dạng hóa nội dung hoạt động.
Cũng có quan điểm cho rằng xã hội hóa chính là việc huy động nguồn lực nhân dân để chia sẽ gánh nặng cùng với Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ đáng lẽ ra Nhà nước phải làm. Tức là, quan điểm này nhìn nhận dưới góc độ của người cung cấp hàng 7 Luan van hóa, dịch vụ, nếu như nhà nước không hỗ trợ thì mọi gánh nặng tài chính sẽ đổ lên người được cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Khi đó, đối tượng được cung cấp hàng hóa, dịch vụ sẽ bị phân khúc tùy vào khả năng tài chính của họ. Cùng chia sẻ quan điểm này Xã hội hóa còn có thể được xem xét dưới gốc độ hợp tác công tư trong cung ứng hàng hóa, dịch vụ và cấp tài chính cho hoạt động đó (theo Nguyễn Quang A, 2008.
Tăng tốc xã hội hóa). Tuy nhiên, điều cốt lõi của vấn đề xã hội hóa theo cách nhìn này đó là liệu Nhà nước và nhân dân sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực tài chính ra sao, việc phân chia trách nhiệm công tư có đảm bảo cho người nghèo tiếp cận đến các hàng hóa, dịch vụ, quản lý chất lượng hoạt động thế nào. Theo Nghị quyết số 90/CP ngày 27/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục y tế, văn hóa. Chính phủ đã thể hiện rõ quan điểm về xã hội hóa, theo đó xã hội hóa.
là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội.; phát triển rộng rãi các hình thức hoạt động do các tập thể hoặc cá nhân tiến hành.; mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực và tài lực trong xã hội. Cụ thể hơn nữa, xã hội hóa là việc huy động nguồn lực của toàn xã hội để chăm lo, phát triển sự nghiệp và quay trở lại toàn xã hội đều được hưởng thành quả đó. Khái niệm xã hội hóa lần đầu tiên được đưa vào sử dụng tại văn kiện của Đảng tại Đại hội lần thứ VIII. Sau đó, trong Nghị quyết Đại hội lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định rằng các chính sách xã hội được thực hiện trên tinh thần xã hội hóa, đề cao tinh thần trách nhiệm của các cấp, huy động nguồn lực của nhân dân và sự tham gia của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội.
Như vậy, xã hội hóa được dùng để chỉ sự quan tâm cũng như đóng góp của toàn xã hội đối với một hoặc một số lĩnh vực nào đó như xã hội hóa kinh tế, xã hội hóa y tế, xã hội hóa về giáo dục… và quan trọng là xã hội hóa trong lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật. 8 Luan van * Khái niệm về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Theo quan điểm triết học về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, hình thức PBGDPL giữ vai trò hỗ trợ hoặc tác động trở lại đối với kết quả của công tác PBGDPL. Trong đó, hình thức PBGDPL là cách thức tổ chức hoạt động PBGDPL, cách tiến hành một hoạt động cụ thể để đạt được mục đích hình thành ở đối tượng tình cảm, tri thức và hành vi pháp lý phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật. Nếu nội dung pháp luật phù hợp, thiết thực, dễ hiểu, gần gũi nhưng hình thức tổ chức mờ nhạt, thiếu sáng tạo, xa rời thực tiễn thì tất yếu sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả PBGDPL.
Vì lẽ đó, công tác PBGDPL luôn được xã hội (Nhà nước, tổ chức, công dân) quan tâm ở cả nội dung và hình thức phổ biến, truyền tải pháp luật, thông tin pháp lý để đối tượng được tác động hình thành được thói quen, tình cảm đối với pháp luật và có hành vi xử sự phù hợp, có ý thức chấp hành, tuân thủ pháp luật. Ngày 7/12/1982, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Chỉ thị số 315/CT về việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền PBGDPL đã xác định: Hình thức tuyên truyền cấn phong phú, hấp dẫn, thích hợp với từng loại đối tượng. Cần sử dụng rộng rãi báo chí, phát thanh, truyền hình và các hình thức văn hoá, nghệ thuật khác để phổ biến pháp luật. Báo chí, đài phát thanh, truyền hình chú ý thường xuyên có mục tuyên truyền giáo dục pháp luật bằng các hình thức nói chuyện, giải đáp pháp luật, biểu dương người tốt, việc tốt, phê phán những hiện tượng vi phạm pháp luật.
Trong các bài báo như tin tức, mẩu chuyện, bình luận, xã luận… cần có ý thức phân tích khía cạnh pháp lý của vấn đề, qua đó mà giáo dục ý thức pháp luật cho người đọc. Xuất bản sách phổ thông giới thiệu văn bản pháp luật của nhà nước. Xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu để đưa giáo dục pháp luật vào các trường học. Tiếp đó, Chỉ thị số 300/CT ngày 22/10/1987 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về một số công tác trước mắt nhằm tăng cường quản lý Nhà nước bằng 9 Luan van pháp luật đề ra yêu cầu: Triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật, huy động lực lượng của các đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng tham gia vào đợt vận động thiết lập trật tự kỷ cương và các hoạt động thường xuyên xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong các cơ quan Nhà nước và trong xã hội”.
Trong Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác PBGDPL trong giai đoạn hiện nay và Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg đã chỉ rõ “Chú trọng hình thức tuyên truyền miệng trong việc phổ biến, triển khai thực hiện các văn bản pháp luật cần thiết cho từng đối tượng, nhất là cán bộ chính quyền cấp cơ sở, các tầng lớp nhân dân” và “Xác định rõ các biện pháp PBGDPL cho từng đối tượng như tuyên truyền miệng, biên soạn tài liệu, các phương tiện thông tin đại chúng”… Ngày 17/01/2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 13/2003/QĐ - TTg phê duyệt Chương trình PBGDPL từ năm 2003 đến năm 2007 trong đó dành một mục lớn (mục II) quy định các hình thức, biện pháp PBGDPL chủ yếu. Thông tư số 01/2003/TT-BTP ngày 14/3/2003 quy định một số hình thức PBGDPL như phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống loa truyền thanh cơ sở, tủ sách pháp luật, biên soạn tài liệu pháp luật, cuộc thi tìm hiểu pháp luật, câu lạc bộ pháp luật, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, giáo dục pháp luật trong nhà trường. Gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg ngày 12/3/2008 phê duyệt Chương trình PBGDPL từ năm 2008 đến năm 2012, trong đó đề ra “Đổi mới, nâng cao hiệu quả các hình thức, biện pháp PBGDPL hiện có; triển khai trên diện rộng những hình thức PBGDPL mới đang phát huy hiệu quả trên thực tế…”. Như vậy, công tác PBGDPL được hiểu là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định nhằm đạt mục đích hình thành ở đối tượng được tác động tri thức pháp lý, 10 Luan van tình cảm và hành vi phù hợp với đòi hòi của hệ thống pháp luật hiện hành, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội và nâng cao trình độ văn hoá pháp lý của công dân.
* Khái niệm về xã hội hoá công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Luật phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2013 đã quy định về xã hội hóa công tác PBGDPL là một trong những chính sách quan trọng, có tính đột phá nhằm huy động nguồn lực xã hội cho công tác này. Xã hội hóa công tác PBGDPL là một xu thế khách quan, phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội và đã được Luật PBGDPL ghi nhận. Tại Nghị định số 28/2013/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật PBGDPL. Theo Điều 4 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật có đề cập đến khái niệm về xã hội hóa công tác PBGDPL là: “Nhà nước khuyến khích và có chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật; huy động các nguồn lực xã hội đóng góp cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Căn cứ tình hình kinh tế - xã hội của từng thời kỳ, Chính phủ quy định cụ thể chính sách hỗ trợ đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia thực hiện PBGDPL”. Do đó, việc xác định mức độ xã hội hóa như thế nào, đâu là những việc mà tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân (không phải Nhà nước) được thực hiện để đảm bảo cho công tác quản lý cũng như sự kiểm soát của Nhà nước, tránh tình trạng lợi dụng của những tổ chức, cá nhân có động cơ không đúng.