phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 4 chƣơng: 6 Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Chƣơng 2: Lý luận chung về công tác tƣ vấn lập dự án trong lĩnh vực xây dựng Chƣơng 3: Thực trạng công tác lập dự án tại công ty cổ phần đầu tƣ xây dựng và dịch vụ Thiên Sơn giai đoạn 2012 – 2015 Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện công tác lập dự án tại công ty cổ phần đầu tƣ xây dựng và dịch vụ Thiên Sơn 7 CHƢƠNG 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC TƢ VẤN LẬP DỰ ÁN TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG 2. Một số vấn đề về dự án đầu tƣ 2. Dự án đầu tƣ, dự án đầu tƣ trong lĩnh vực lĩnh vực xây dựng 2. Khái niệm dự án đầu tư, dự án đầu tư xây dựng Dự án đầu tư Dự án đầu tƣ có thể đƣợc xem xét trên nhiều góc độ khác nhau: Theo Luật đầu tƣ số 67/2014/QH13: “Dự án đầu tƣ là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tƣ trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”.
Theo Ngân hàng thế giới: “Dự án đầu tƣ là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí có liên quan với nhau đƣợc hoạch định nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nào đó trong một thời gian nhất định”. Đứng trên các góc độ khác nhau sẽ có các quan niệm khác nhau về dự án đầu tƣ, nhƣng về bản chất của khái niệm dự án đầu tƣ là giống nhau. Về mặt nội dung, “dự án đầu tƣ là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, đƣợc bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tƣơng lai”. Một dự án đầu tƣ bao gồm 4 thành phần chính: - Mục tiêu của dự án đƣợc thể hiện ở hai mức: + Mục tiêu phát triển: “Thể hiện sự đóng góp của dự án vào việc thực hiện các mục tiêu chung của đất nƣớc, thực hiện thông qua những lợi ích dự án mang lại cho nền kinh tế xã hội”.
+ Mục tiêu trực tiếp của chủ đầu tƣ: “Đó là các mục tiêu cụ thể cần đạt đƣợc của việc thực hiện dự án, thể hiện thông qua những lợi ích tài chính mà chủ đầu tƣ thu đƣợc từ dự án”. - Các kết quả: “Là những kết quả cụ thể, có thể định lƣợng đƣợc, đƣợc tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án”. 8 - Các hoạt động: “Là những nhiệm vụ hoặc hành động diễn ra trong quá trình thực hiện dự án nhằm tạo ra các kết quả trên”. - Các nguồn lực: “Đó là nguồn đầu vào cần thiết để tiến hành thực hiện dự án nhƣ vật chất, tài chính và con ngƣời”.
Dự án đầu tư trong lĩnh vực xây dựng Dự án đầu tƣ xây dựng là “tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lƣợng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tƣ xây dựng, dự án đƣợc thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tƣ xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tƣ xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật”đầu tƣ xâydựng. Lập dự án đầu tư xây dựng Lập dự án đầu tƣ xây dựng “gồm việc lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tƣ xây dựng (nếu có), Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tƣ xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tƣ xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết để chuẩn bị đầu tƣ xây dựng. Dự án đầu tƣ xây dựng công trình “là tập hợp các đề xuất có liên quan dến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì , nâng cao chất lƣợng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định”.
Dự án xây dựng thông thƣờng gồm phần thuyết minh dự án và bản vẽ thiết kế cơ sở. Đây chính là các căn cứ để triển khai cho bản vẽ thiết kế kỹ thuật và bản vẽ thi công xây dựng công trình sau này. Tổng mức đầu tƣ của dự án chính là giá trị ban đầu đầu tƣ xây dựng của dự” án. Đặc trưng của dự án đầu tư trong lĩnh vực xây dựng Dự án đầu tƣ nói chung và dự án đầu tƣ trong lĩnh vực xây dựng nói riêng đều có những đặc trƣng của dự án đầu tƣ phát triển: “- Dự án có mục đích, mục tiêu rõ ràng, mục tiêu chủ yếu của các dự án đầu tƣ xây dựng hiện nay là tạo ra các sản phẩm, dịch vụ tốt nhất, tạo ra hiệu quả tài chính cho chủ đầu tƣ, tạo ra lợi ích kinh tế xã hội nhƣ đem lại việc làm cho ngƣời lao động, đóng góp vào ngân sách Nhà nƣớc, góp phần vào mục tiêu tăng trƣởng kinh tế của đất nƣớc.
9 - Dự án có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn. Có những dự án có thời gian chuẩn bị và thực hiện đầu tƣ kéo dài từ 2-5 năm, thời gian vận hành kết quả đầu tƣ có thể lên đến 30-50 năm tùy tính chất từng dự án. - Dự án có sự tham gia của nhiều bên nhƣ chủ đầu tƣ, nhà tƣ vấn, cơ quan quản lý nhà nƣớc, cơ quan cung cấp dịch vụ trong đầu tƣ. - Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo.
Đó có thể các công trình xây dựng, nhà máy, xí nghiệp,… - Môi trƣờng của hoạt động của dự án là “va chạm”, có sự tƣơng tác phức tạp giữa dự án này và dự án khác, giữa bộ phận quản lý này và bộ phận quản lý khác. - Do đặc điểm mang tính dài hạn của hoạt động đầu tƣ phát triển chịu ảnh hƣởng của nhiều yếu tố nhƣ thời tiết, khí hậu, thiên tai, tổ chức lao động, sự biến động của nền kinh tế, dự án có tính bất định và rủi rocao. Vai trò của dự án đầu tƣ Đối với cơ quan quản lý Nhà nước và các định chế tài chính Dự án đầu tƣ là cơ sở để thẩm tra cấp giấy chứng nhận đầu tƣ, thẩm định để chấp nhận sử dụng vốn của Nhà nƣớc, để ra quyết định đầu tƣ, quyết định tài trợ vốn cho dự án. Đối với chủ đầu tư Dự án đầu tƣ “thể hiện chi tiết và đánh giá toàn diện mọi khía cạnh, vấn đề liên quan đến dự án, cho phép chủ đầu tƣ có thể ra quyết định đầu tƣ và hạn chế đến mức thấp nhất khả năng rủi ro có thể gặp phải.
Dự án đầu tƣ là căn cứ quan trọng nhất để quyết định của chủ đầu tƣ có nên bỏ vốn đầu tƣ”. Dự án đầu tƣ “là cơ sở xin phép đƣợc đầu tƣ (hoặc ghi vào kế hoạch đầu tƣ) và xin cấp giấy phép hoạt động. Dự án đầu tƣ cũng chính là phƣơng tiện để tìm đối tác trong và ngoài nƣớc liên doanh bỏ vốn đầu tƣ hay là phƣơng tiện để thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nƣớc tài trợ hoặc cho vay vốn”. Bên cạnh đó, dự án đầu tƣ còn “là căn cứ quan trọng để xem xét giải quyết các mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên tham gia liên doanh, giữa liên doanh và Nhà nƣớc Việt Nam.
Đây cũng là cơ sở pháp lý để xem xét khi có tranh chấp giữa các bên tham gia liên doanh”. Vì thế khi thực hiện dự án đầu tƣ đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ của chủ đầu tƣ và phải đi theo trình tự hợp lý để đảm bảo tiến độ thực hiện, đảm bảo chất 10 lƣợng công trình với chi phí thấp nhất, kiểm soát đƣợc rủi ro và đạt hiệu quả” cao nhất. Chu kỳ dự án đầu tƣ Chu kỳ dự án là “các bƣớc hoặc các giai đoạn của một dự án phải trải qua bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ cho tới khi kết thúc dự án”.1: Chu kỳ dự án đầu tƣ Ý đồ về dự án đầu tƣ Nghiên cứu cơ hội đầu tƣ Giai đoạn 1 : Chuẩn bị Nghiên cứu tiền khả thi đầu tƣ Nghiên cứu khả thi Thẩm định dự án Đàm phán ký kết hợp đồng và hoàn tất các thủ tục để chuẩn bị đầu tƣ Giai đoạn 2 : Thực Thiết kế và lập dự toán xây lắp hiện đầu tƣ Xây dựng, tuyển dụng và đào tạo cán bộ công nhân viên Bàn giao và nghiệm thu công trình Sử dụng chƣa hết công suất thiết kế Giai đoạn 3 : Vận Sử dụng công suất ở mức cao nhất hành kết quả đầu tƣ Công suất bắt đầu giảm và thanh lý Ý đồ về một dự án đầu tƣ mới Nguồn: Bộ kế hoạch đầu tư 2. Công tác lập dự án đầu tƣ 2.
Khái niệm công tác lập dự án Lập dự án đầu tƣ là tập hợp các hoạt động xem xét chuẩn bị tính toán toàn diện các khía cạnh kinh tế, kỹ thuật, điều kiện tự nhiên, pháp lý … trên cơ sở đó xây dựng một kế hoạch hoạt động phù hợp nhằm thực hiện một dự án đầu tƣ. Quá trình lập dự án đƣợc coi là một quá trình phát triển từ việc hình thành các ý tƣởng đầu tƣ đến việc xây dựng một kế hoạch chi tiết nhằm biến ý tƣởng đó thành hiện thực. 11 Công tác lập dự án đầu tƣ là “một phần của giai đoạn chuẩn bị đầu tƣ, quyết định sự thành công hay thất bại của hoạt động đầu tƣ, là cơ sở để tiến hành đầu tƣ và đƣa dự án vào vận hành khai thác. Sản phẩm của công tác lập dự án là bản dự án hoàn chỉnh, dự kiến về toàn bộ quá trình hoạt động của dự án trong tƣơng lai.
Nội dung chủ yếu của một dự án đầu tƣ bao gồm các khía cạnh kinh tế vi mô và vĩ mô, quản lý và kỹ thuật”. Mục đích của công tác lập dự án đầu tƣ Thực hiện công tác lập dự án “nhằm xây dựng một báo cáo lịch trình khoa học cụ thể về kỹ thuật, tài chính, thời gian và quản trị để thực hiện dự án. Trên cơ sở đó, chủ đầu tƣ, cơ quan quản lý nhà nƣớc có thể đánh giá, xem xét dự án xem có đáp ứng yêu cầu của mình hay không.