CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA RỪNG TRỒNG SẢN XUẤT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA RỪNG TRỒNG SẢN XUẤT 1. Lý luận cơ bản về rừng trồng sản xuất 1. Quan niệm về rừng và rừng trồng sản xuất Cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về rừng, tùy thuộc vào gộc đọ nhìn nhận vai trò, chức năng, tính chất và những đặc trưng cơ bản về rừng. Theo tác giả Morozov (1930), thì rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển.
Theo định nghĩa của FAO: Rừng là những diện tích đất lớn hơn 0,5 ha, có cây gỗ bao phủ ít nhất 10% diện tích, mà trước đây không phải là đất nông nghiệp hoặc đô thị. UNFCCC (2001), định nghĩa Rừng là một khu vực có diện tích tối thiểu là 0.05ha (hoặc quần thể tương đương) mà ít nhất 10-30% diện tích được bao phủ bởi những cây (gỗ) có khả năng đạt đến chiều cao từ 2-5m trở lên khi thành thục. Ngay ở Việt nam cũng có nhiều khái niệm khác nhau về rừng. Cẩm nang Lâm Nghiệp Việt Nam 2004, định nghĩa rừng “là một quần xã sinh vật, trong đó cây rừng (gỗ hoặc tre nứa) chiếm ưu thế.
Quần xã sinh vật phải có một diện tích đủ lớn và có mật độ cây nhất định để giữa quần xã sinh vật với môi trường, giữa các thành phần của quần xã sinh vật có mối quan hệ để hình thành hoàn cảnh rừng khác với hoàn cảnh bên ngoài”. Theo luật bảo vệ và phát triển rừng thì “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các quần thể thực vật, động vật và vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên”. Như vậy, cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về rừng, quan niệm được nhiều người thừa nhận đó là: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các quần thể thực vật, động vật và vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. 6 Phân loại rừng: Căn cứ vào nhiều tiêu thức khác nhau, người ta có thể phân loại rừng thành những loại khác nhau Căn cứ vào nguồn gốc hình thành, rừng được chia thành hai loại: - Rừng tự nhiên: là rừng có nguồn gốc tự nhiên bao gồm các loại rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh (hệ quả của rừng nguyên sinh bị tác động), rừng thứ sinh được làm giàu bằng tái sinh tự nhiên hay nhân tạo.
- Rừng trồng: là rừng do con người tạo nên bằng cách trồng mới trên đất chưa có rừng hoặc trồng lại rừng trên đất trước đây đã có rừng. Căn cứ vào tổ thành rừng, dựa vào thành phần và tỷ lệ giữa các loài mà người ta chia ra thành rừng thuần loài và rừng hỗn loài. - Về nguyên tắc, rừng thuần loài là rừng chỉ có một loài. Tuy nhiên trên thực tế, rừng có một số loài khác nhưng số lượng các loài khác này không vượt quá 10% thì vẫn được coi là rừng thuần loài (rừng thuần loài tương đối).
- Với rừng hỗn loài, để biểu thị mức độ tham gia của các loài người ta dùng công thức tổ thành. Thành phần cây gỗ là bộ phận chính và chủ yếu tạo nên độ khép tán (được biểu diễn thông qua độ tán che), độ đầy và trữ lượng lâm phần. Căn cứ vào đặc tính sử dụng rừng, rừng được chia thành 3 loại: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. - Rừng đặc dụng: Được xác định nhằm mục đích bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng quốc gia, nguồn gen thực vật và động vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh, phục vụ nghỉ ngơi, du lịch.
- Rừng phòng hộ: Được xác định chủ yếu để xây dựng, phát triển rừng cho mục đích bảo vệ và điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống cát bay, sóng biển, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, đảm bảo cân bằng sinh thái và an ninh môi trường. - Rừng sản xuất: Được xác định chủ yếu để xây dựng, phát triển rừng cho mục đích sản xuất, kinh doanh lâm sản (trong đó đặc biệt là gỗ và các loại đặc sản rừng) và kết hợp phòng hộ môi trường, cân bằng sinh thái. 7 Như vậy, rừng trồng sản xuất là một loại rừng được sử dụng nhằm mục đích kinh doanh là chủ yếu. Vì mục đích này, quá trình nghiên cứu rừng trồng sản xuất phải gắn liền mục đích chính của rừng là tạo lợi ích cho chủ thể của rừng.
Đặc điểm chủ yếu của rừng trồng sản xuất 1. Đặc điểm kinh tế xã hội Trồng và phát triển rừng sản xuất một mặt ngăn chặn được tình trạng suy thoái của rừng, nâng cao năng suất trữ lượng và làm tăng độ che phủ của rừng góp phần bảo vệ môi trường sinh thái; mặt khác nó cũng gắn với nguy cơ giảm tính đa dạng sinh học của rừng. Vì vậy, việc đầu tư phát triển rừng trồng sản xuất nhất thiết phải được xem xét, cân nhắc ngay từ khi hình thành ý tưởng, định hướng phát triển đến tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phát triển bền vững về các mặt kinh tế - xã hội - môi trường. Không vì lợi ích trước mắt mà để lại những hậu quả nghiêm trọng, khôn lường về sau.
Trồng rừng sản xuất có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, trồng rừng sản xuất phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên, sinh thái: Không phải bất kỳ ở đâu cũng có thể rừng trồng sản xuất mà chỉ những vùng có diện tích đất trống đồi núi trọc, có điều kiện về đất đai, địa hình, thổ nhưỡng, sinh thái phù hợp mới có thể tiến hành trồng rừng sản xuất. Hiện tại, hầu hết các tỉnh có lợi thế về phát triển rừng, lợi nhuận, ngân sách thu được từ rừng là không đáng kể, bản thân người dân sống ở vùng có rừng không sống được bằng nghề rừng lại sống chủ yếu nhờ vào đất nông nghiệp; đất nông nghiệp lại ít, cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn, cố gắng lắm cũng chỉ đủ ăn, nếu gặp thiên tai thì lại bị nghèo đói. Thứ hai, trồng rừng sản xuất nhằm khai thác hết tiềm năng đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Thứ ba, trồng rừng sản xuất góp phần nâng cao độ che phủ, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững: Trồng rừng sản xuất làm tăng lưu vực nguồn sinh thủy và khả năng phòng hộ đầu nguồn các hồ đập, điều tiết dòng chảy chống xói mòn, rữa trôi đất, cải thiện và điều hòa khí hậu trong vùng sinh thái, tạo môi trường sống thuận lợi cho các các loài động vật rừng sinh sống và phát triển.
Theo kết quả nghiên cứu mới đây về kinh tế môi trường của các nhà khoa học. Việc trồng và phát triển rừng làm tăng giá trị dịch vụ môi trường nhằm phục vụ và đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống, thúc đẩy phát triển bền vững. 8 Việt Nam hiện có khoảng 13,4 triệu ha rừng, chiếm gần 2/3 diện tích tự nhiên, trong đó gần 11 triệu ha là rừng tự nhiên, hơn 2 triệu ha rừng trồng.; lao động dôi dư nhiều, dân số miền núi tăng nhanh, nếu không giải quyết được đời sống cho người dân sống ven rừng và gần rừng ngang bằng với nhu cầu đời sống của xã hội thì sẽ tạo ra nguy cơ tiềm ẩn gây mất ổn định chính trị xã hội. Vì vậy chỉ có đổi mới tư duy bằng cách giao đất, giao rừng cho người dân, chăm sóc, bảo vệ rừng và sống được nhờ rừng thì mới giải quyết được các vấn đề trên.
Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật Xuất phát từ mục đích, đối tượng rừng trồng sản xuất có điểm khác biệt so với các loại rừng khác nên quy trình trồng rừng sản xuất cũng có những đặc thù nhất định. Tuy nhiên để đảm bảo rừng trồng có năng suất, hiệu quả cao, việc trồng rừng cần phải tuân thủ các quy định cụ thể cho từng loài cây, từ chọn giống cây trồng, chọn đất, chuẩn bị đất, tiến hành trồng cho đến chăm sóc, bảo vệ và khai thác. Quá trình phát triển rừng trồng sản xuất phải đảm bảo các yêu cầu sau: a. Yêu cầu về đất đai Việc bố trí cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai sẽ phát huy lợi thế so sánh của từng vùng.
Tùy vào từng điều kiện khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng để bố trí các loại cây trồng phù hợp với đặc điểm sinh học của từng loài cây. Vấn đề quan trọng là khi điều tra khảo sát tìm đất để trồng cây gì thì phải đánh giá thành phần cơ giới của đất, lập bản đồ thổ nhưỡng tạo điều kiện để sau này có chế độ chăm sóc, bón phân thích hợp đưa lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cao. Các loại đất được quy hoạch vào trồng rừng sản xuất bao gồm: + Đối tượng Ia: Đất trống đặc trưng bởi thực bì cỏ, lau lách hoặc chuối rừng. + Đối tượng Ib: Đồi trọc đặc trưng bởi thực bì cây bụi, sim mua và cũng có thể có ít một số cây gỗ, tre mọc rãi rác.
+ Đối tượng Ic: Rừng phục hồi đặc trưng bởi cây gỗ rải rác và các thân cây gỗ tái sinh với mật độ thấp. + Ngoài ra hiện nay các tỉnh còn có xu hướng chuyển đổi đối tượng rừng nghèo kiệt sang rừng trồng sản xuất với kỳ vọng nhanh đưa lại nguồn thu và hiệu quả kinh tế cao hơn so với các phương thức tác động khác. 9 Tùy theo phân loại các hạng đất như độ dốc, tầng dày, thành phần cơ giới của đất và đặc trưng của các loại thực bì trên từng nhóm, mức đọ đáp ứng yêu cầu về đất đai của mỗi loại đất hoàn toàn khác nhau: Đất hạng I (rất thuận lợi đối với trồng rừng sản xuất) - Độ dày từng đất > 50 cm; - Độ dốc < 150; - Thành phần cơ giới: đất thịt nhẹ, đất thịt trung bình; đá mẹ: Rhiolit, Granit - Thực bì chỉ thị: Trảng cỏ cây bụi dày, sinh trưởng từ trung bình đến tốt; Cây bụi hoặc nứa tép sinh trưởng trung bình đến tốt; Độ che phủ của cây bụi cỏ cao trên 70 cm.