Chương 1. Cơ sở luận lý luận về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại. Thực trạng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Kim Bảng. Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Kim Bảng.
CƠ SỞ LUẬN LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại 1. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về ngân hàng thương mại Thuật ngữ “ngân hàng” - “Bancabank” được bắt đầu biết đến từ thời kỳ Phục hưng tại Italia có nghĩa là chỉ chiếc ghế băng nơi các nhà buôn có thể gặp gỡ để trao đổi tiền tệ.
Từ đó, “ngân hàng” được dùng để gọi thay thế cho những cửa hiệu đổi tiền, chuyển tiền, cầm đồ, giữ hộ tài sản quý để thực hiện chức năng thanh toán trong trao đổi, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ. Sau một quá trình dài ra đời và phát triển, ngân hàng thương mại hiện nay là một trong những tổ chức trung gian tài chính ra đời sớm nhất trên thế giới với quy mô tài sản quản lý khổng lồ và phạm vi hoạt động rộng khắp các lĩnh vực, được coi là một trong những trung gian tài chính lớn nhất, dù ở quốc gia nào. Tại Việt Nam, ngân hàng thương mại được hiểu là: “tổ chức kinh doanh tiền tệ và tín dụng, mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế” (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại * Khái niệm Kinh doanh là một trong những hoạt động của con người nhằm tìm kiếm lợi nhuận.
Theo Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trư ng nhằm mục đích sinh l i”. Theo Luật các Tổ chức tín dụng (2010): “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thư ng xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ qua tài khoản”. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Cụ thể như sau: 9 Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. Khái niệm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại * Khái niệm hiệu quả và hiệu quả kinh doanh: Hiệu quả là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và nguồn lực mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện nhất định. Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “hiệu quả kinh doanh”: Nhà kinh tế học Manfred Kuhn cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.” Theo Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa” Một số học giả khác cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ so sánh tương đối giữa kết quả và chi phí để đạt được kết quả đó”.
Từ những quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát: Hiệu quả kinh doanh của NHTM là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đã có để đạt được kết quả cao nhất với tổng chi phí thấp nhất. Hiệu quả phải gắn liền với việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp và được thể hiện qua công thức sau: 10 Kết quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh = Nguồn lực đầu vào sử dụng Hiệu quả kinh doanh mô tả mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà chủ thể nhận được và chi phí bỏ ra hoặc các nguồn lực được huy động để nhận được lợi ích kinh tế đó. Hiệu quả kinh doanh được biểu hiện trên cả hai mặt lượng và chất: Về mặt lượng: Hiệu quả kinh doanh biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh đó. Về mặt chất: Việc đạt được hiệu quả kinh doanh cao phản ánh năng lực và trình độ quản lý, đồng thời đòi hỏi sự gắn bó giữa việc đạt được những mục tiêu kinh tế với việc đạt được những mục tiêu xã hội.
* Khái niệm hiệu quả và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại Thực tế cho thấy, quá trình kinh doanh của ngân hàng bao gồm các hoạt động cung cấp sản phẩm dịch vụ như: Thanh toán, nhận tiền gửi, bảo hiểm, mua bán ngoại tệ. và chủ yếu là bán quyền sử dụng vốn với lãi suất nhất định để tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng và đứng trên góc độ vĩ mô thì nó còn phải làm tăng thu ngân sách cho nhà nước, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống của người lao động và tái phân phối lợi tức xã hội trong phạm vi toàn xã hội. Tác giả cho rằng, ngày nay, khi đề cập đến vấn đề hiệu quả thì người ta vẫn chưa có được một khái niệm thống nhất. Bởi vì ở mỗi lĩnh vực khác nhau, xem xét trên các góc độ khác nhau thì người ta có những cách nhìn nhận khác nhau về vấn đề hiệu quả.
Trên góc độ ngân hàng: hiệu quả kinh doanh là cách sử dụng các nguồn lực hợp lý với nội lực của ngân hàng, nâng cao được năng lực cạnh tranh là tối ưu hóa lợi nhuận và tăng trưởng an toàn cho ngân hàng. Trên góc độ khách hàng: ngân hàng có hiệu quả kinh doanh tốt là có các sản phẩm dịch vụ đa dạng phù hợp với nhu cầu của khách hàng, mang lại hiệu quả lợi 11 nhuận cho khách hàng và những giá trị gia tăng đi kèm như nhanh, gọn, chính xác và tiện dụng cho lĩnh vực kinh doanh của khách hàng Trên góc độ xã hội: hiệu quả kinh tế được đo lường bằng các chỉ tiêu tài chính còn hiệu quả xã hội lại phản ánh kết quả sử dụng các nguồn lực xã hội nhằm đặt được các mục tiêu xã hội trong thời kì. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa các chỉ tiêu tăng trưởng với phát triển kinh tế xã hội địa phương, các mục tiêu xã hội như xóa đói giảm nghèo, cho vay chính sách…Tuy nhiên trong kinh doanh cần điều chỉnh hợp lý giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Trong một số thời kì hiệu quả kinh doanh giảm do ngân hàng tập trung vào việc tăng chỉ tiêu hiệu quả xã hội.
Quan điểm về hiệu quả kinh doanh phải bao gồm hiệu quả kinh tế (lợi nhuận của ngân hàng, chỉ tiêu an toàn) khi đạt được hiệu quả kinh tế thì sẽ kéo theo các hiệu quả về mặt xã hội đi lên. Giống như lợi nhuận cao thì năng suất lao động đi lên, phúc lợi người lao động được cải thiện. Đóng góp ngân sách cũng nhiều và giúp nhà nước giải quyết các vấn đề an sinh xã hội. Về mặt lý thuyết thì như vậy nhưng thực tiễn lại có nhiều sai lệch.
Từ những quan điểm trên ta thấy có nhiều cách tiếp cận về vấn đề hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại, chúng bổ sung cho nhau để cho chúng ta thấy khái niệm toàn diện về hiệu quả kinh doanh ngân hàng thương mại. Từ những khái niệm và quan điểm trên tác giả chú trọng hơn về quan điểm của ngân hàng như sau: Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại là biểu hiện mối quan hệ giữa doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của ngân hàng thương mại đồng th i là sự an toàn trong kinh doanh của chính ngân hàng thương mại. Mối quan hệ này có thể phản ánh theo chỉ tiêu tuyệt đối hoặc tương đối, giữa kết quả kinh tế và chi phí của ngân hàng thương mại. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại Trong nền kinh tế mở cửa hiện nay để đứng vững trên thị trường là một điều hết sức khó khăn, nhất là khi Việt Nam gia nhập Kinh tế quốc tế, điều đó buộc doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện mình.
Để vừa đáp ứng được những nhu cầu ngày càng cao, vừa tạo uy tín cạnh tranh với các đối thủ. Doanh 12 nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải xác định các tiềm lực của bản thân đơn vị. Vì vậy không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của NHTM có ý nghĩa rất to lớn cả về góc độ nghiên cứu khoa học cũng như giải quyết những vấn đề đòi hỏi của thực tiễn thể hiện qua một số mặt sau: Các NHTM hoạt động có hiệu quả sẽ tăng cường khả năng trung gian tài chính như nâng cao mức huy động các nguồn vốn trong nước và phân bổ nguồn vốn đó vào nơi sử dụng có hiệu quả, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Hoạt động càng có hiệu quả thì việc cung ứng vốn tín dụng và các dịch vụ khác sẽ có chi phí càng thấp, từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức kinh tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng.
Khi đó sẽ có tác động ngược trở lại làm cho NHTM phát triển và hoạt động có hiệu quả hơn.