phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn sẽ đƣợc trình bày thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát thu, chi ngân sách cấp xã Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát thu, chi ngân sách cấp xã trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát thu, chi ngân sách cấp xã trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. 3 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ T ỰC TIỄN VỀ KIỂM SO T T U, CHI NGÂN S C CẤP XÃ 1. Cơ sở lý luận về ngân sách cấp xã 1. N ân s ch nhà nước 1.
Khái niệm NSNN NSNN là có vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của bộ máy Nhà nƣớc. NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nƣớc trên cơ sở luật định. Theo Luật NSNN (2015) đưa ra định nghĩa:“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [10]. Nhƣ vậy, NSNN chính là các khoản thu, chi của Nhà nƣớc dựa trên quyết định của cấp thẩm quyền trong một khoảng thời gian nhất định (thƣờng là 1 năm) nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc.
Theo điều 5 – Luật NSNN (2015) phạm vi NSNN bao gồm: Thu NSNN và chi NSNN. Thu NSNN bao gồm: Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí; Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nƣớc thực hiện, trƣờng hợp đƣợc khoán chi phí hoạt động thì đƣợc khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nƣớc thực hiện nộp ngân sách nhà nƣớc theo quy định của pháp luật; Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nƣớc, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nƣớc cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phƣơng; Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Chi ngân sách nhà nƣớc bao gồm: Chi đầu tƣ phát triển; Chi dự trữ quốc gia; Chi thƣờng xuyên; Chi trả nợ lãi; Chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật [10]. Đặc điểm của NSNN 4 NSNN vừa là nguồn lực để nuôi dƣỡng bộ máy Nhà nƣớc, vừa là công cụ hữu hiệu để Nhà nƣớc quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội nên có những đặc điểm chính sau: Thứ nhất, hoạt động thu chi của NSNN luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của nhà nƣớc và việc thực hiện các chức năng của nhà nƣớc, đƣợc nhà nƣớc tiến hành trên cơ sở pháp luật.
Quốc hội đã ban hành Luật NSNN để quy định về nguồn thu và nhiệm vụ chi NSNN, tất cả đều gắn liền với việc thực hiện các chức năng của Nhà nƣớc. Hơn nữa, Luật NSNN cũng quy định quyền hạn và nghĩa vụ của các cơ quan Nhà nƣớc, các tổ chức, cá nhân liên quan đến NSNN. Vì vậy, tất cả các đối tƣợng liên quan đều phải tuân thủ theo quy định. Thứ hai, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nƣớc và luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng.
Nhà nƣớc là chủ thể duy nhất có quyền quyết định đến các khoản thu – chi của NSNN và hoạt động thu – chi này nhằm mục tiêu giúp Nhà nƣớc giải quyết các quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nƣớc tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nƣớc với các tổ chức kinh tế - xã hội, các tầng lớp dân cƣ. Thứ ba, NSNN là một bản dự toán thu chi. Thu, chi NSNN là cơ sở để thực hiện các chính sách của Chính phủ. Chính sách nào mà không đƣợc dự kiến trong NSNN thì sẽ không đƣợc thực hiện.
Do đó, việc thông qua NSNN là một sự kiện chính thể hiện sự nhất trí trong Quốc hội về chính sách của Nhà nƣớc. Thứ tư, NSNN là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. Hệ thống tài chính quốc gia bao gồm: tài chính nhà nƣớc, tài chính doanh nghiệp, trung gian tài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình. Trong đó tài chính nhà nƣớc là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia.
Tài chính nhà nƣớc tác động đến sự hoạt động và phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Tài chính nhà nƣớc thực hiện huy động và tập trung một bộ phận nguồn lực tài chính từ các định chế tài chính khác chủ yếu qua thuế và các 5 khoản thu mang tính chất thuế. Trên cơ sở nguồn lực huy động đƣợc, Chính phủ sử dụng quỹ ngân sách để tiến hành cấp phát kinh phí, tài trợ vốn cho các tổ chức kinh tế, các đơn vị thuộc khu vực công nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Thứ năm, đặc điểm của NSNN luôn gắn liền với tính giai cấp.
Trong thời kỳ phong kiến, mô hình ngân sách sơ khai và tuỳ tiện, lẫn lộn giữa ngân khố của Nhà vua với ngân sách của Nhà nƣớc phong kiến. Hoạt động thu – chi lúc này mang tính cống nạp – ban phát giữa Nhà vua và các thành phần trong xã hội. Quyền quyết định các khoản thu – chi của ngân sách chủ yếu là do ngƣời đứng đầu một nƣớc quyết định. Trong thời kỳ hiện nay, NSNN đƣợc dự toán, đƣợc thảo luận và phê duyệt bởi cơ quan pháp quyền, quyền quyết định là của toàn dân đƣợc thực hiện thông qua Quốc hội.
NSNN đƣợc giới hạn thời gian sử dụng, đƣợc quy định nội dung thu - chi, đƣợc kiểm soát bởi pháp luật và dƣới sự giám sát của nhân dân. Vai trò và chức năn của NSNN 1. Vai trò của ngân sách Nhà nước NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nƣớc. Vai trò của NSNN luôn gắn liền với vai trò của nhà nƣớc theo từng giai đoạn nhất định.
Thứ nhất, NSNN có vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thông qua NSNN, Chính phủ sẽ định hƣớng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ƣu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế và các khoản thu phí, lệ phí khác, NSNN đảm bảo thực hiện vai trò định hƣớng đầu tƣ, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh. Thông qua hoạt động chi ngân sách, Nhà nƣớc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nƣớc là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trƣờng khỏi rơi vào tình trạng cạnh trạng không hoàn hảo. Thông qua chi 6 ngân sách, Nhà nƣớc đã hỗ trợ và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Bên cạnh đó, Nhà nƣớc sử dụng ngân sách nhƣ một công cụ để góp phần bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát Nhà nƣớc chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng những mặt hàng mang tính chất chiến lƣợc. Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế suất thuế xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia. Nhà nƣớc kiềm chế lạm phát thông qua hoạt động phối hợp cùng với ngân hàng trung ƣơng với chính sách tiền tệ thích hợp nhằm góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ. Thứ hai, NSNN thể hiện vai trò điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội.
Nhà nƣớc thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập dƣới hình thức trợ giúp trực tiếp dành cho những ngƣời có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt nhƣ chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dƣới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù chữ, hỗ trợ đồng bào bão lụt. Thứ ba, NSNN có chức năng phân bổ nguồn lực trong xã hội Để tạo lập và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, thông qua các biện pháp thu, chi và quản lý NSNN, Nhà nƣớc thực hiện phân bổ nguồn lực vào những lĩnh vực địa bàn then chốt, có nhiều rủi ro, cần khuyến khích hoặc hạn chế phát triển; đồng thời có thể thu hút, lôi kéo sự tham gia phân bổ nguồn lực của các thành phần kinh tế và khu vực tƣ nhân. Chức năng của ngân sách Nhà nước NSNN có 2 chức năng chính sau: Thứ nhất, NSNN có chức năng phân phối. Bất kỳ một Nhà nƣớc nào muốn tồn tại và duy trì đƣợc các chức năng của mình thì phải có nguồn lực tài chính.
Với nguồn lực đó, Nhà nƣớc thực hiện chi cho bộ máy quản lý Nhà nƣớc, chi cho hoạt động anh ninh – quốc phòng, chi cho hoạt động văn hoá – xã hội, chi cho hoạt động giáo 7 dục – đào tạo, y tế, phúc lợi xã hội, chi cho đầu tƣ phát triển,. Muốn tạo lập đƣợc NSNN, cần phải có hoạt động thu ngân sách nhà nƣớc thông qua thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác thông qua các văn bản pháp luật, thực hiện chi theo dự toán đã đƣợc thông qua, cân đối thu chi phù hợp. Thứ hai, NSNN có chức năng giám đốc quá trình huy động các khoản thu và thực hiện các khoản chi. Thông qua chức năng này, NSNN kiểm tra, giám sát quá trình thu NSNN theo quy định của Luật và các văn bản hƣớng dẫn, trong đó nguồn thu từ thuế là nguồn thu lớn, lâu dài và ổn định nhất, do đó phải kiểm soát việc thu thuế đảm bảo thu đúng, thu đủ, tránh tình trạng nộp chậm, trốn thuế.
Đối với hoạt động chi ngân sách cũng cần kiểm soát chặt chẽ theo đúng dự toán và quy định của Nhà nƣớc, hạn chế tình trạng chi vƣợt dự toán, chi lãng phí. Đồng thời thông qua kiểm tra, kiểm soát hoạt động thu, chi NSNN giúp chúng ta có thể giám sát việc chấp hành các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc. Thông qua đó đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của vốn NSNN, hiệu quả của các chủ trƣơng, chính sách, chế độ do Đảng và Nhà nƣớc đề ra.