Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm soát nội bộ của Ngân hàng thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đại Dương. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đại Dương. 12 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái quát chung về KSNB trong hoạt động NHTM 1.1 Khái niệm chung về hiệu quả kiểm soát nội bộ Hoạt động kiểm soát luôn gắn liền và xuyên suốt tới tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào.
Hoạt động sản xuất kinh doanh càng phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh và đa dạng hóa sản phẩm đã đặt ra yêu cầu các thủ tục kiểm soát ngày càng phức tạp hơn và có vai trò quan trọng hơn trong việc giúp nhà quản trị có thể quản trị doanh nghiệp được tốt hơn, dễ dàng hơn. Nhà quản trị cần giám sát, kiểm soát để biết rằng doanh nghiệp có thể đạt được kết quả, mục tiêu đã đề ra hay không, bên cạnh đó sẽ cần nắm được các nguyên nhân, lý do có thể doanh nghiệp không đạt mục tiêu và từ đó có thể đưa ra các giải pháp khắc phục kịp thời các sai sót, giảm thiểu rủi ro. Bên cạnh đó, việc kiểm soát không những đánh giá các hoạt động đã diễn ra trong hiện tại mà còn có thể thiết lập được với các hoạt động có thể diễn ra trong tương lai. Cục dự trữ liên bang Hoa kỳ (FED) (1929) đã đưa ra lý luận đầu tiên về KSNB.
Theo FED, KSNB là một công cụ để bảo vệ tiền, các tài sản khác của doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp. Theo đó, KSNB là việc bảo vệ tiền không bị mất mát, thất thoát bởi các hành vi sai sót, gian lận và làm cho số liệu kế toán được phản ánh tin cậy, khuyến khích các nhân viên tuân thủ chính sách do nhà quản lý đề ra và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Báo cáo COSO (1992) đã đưa ra nhận định “KSNB là một quá trình do người quản lý, Hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để tạo ra sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu sau đây: đảm bảo sự tin cậy của báo cáo tài chính; đảm bảo sự tuân thủ các quy định và luật lệ; đảm bảo các hoạt động được thực hiện hiệu quả”. Lấy các báo cáo của COSO làm cơ sở, do những yêu cầu và đặc điểm riêng của các ngành nghề và mục tiêu nghiên cứu, KSNB được các nhà nghiên cứu định nghĩa theo từng lĩnh vực cụ thể như sau: 13 Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC), KSNB là một hệ thống các chính sách, các thủ tục được thiết lập tại đơn vị nhằm đảm bảo độ tin cậy các thông tin, việc thực hiện các chế độ pháp luật và hiệu quả hoạt động.
Theo Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), KSNB là các biện pháp, cách thức được chấp nhận thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền, các tài sản khác và kiểm tra sự chính xác trong ghi chép sổ sách kế toán. Theo các nguyên tắc quản trị công ty (OECD Principles of Corporate Governance- 2004 Edition) của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development - OECD) đã chỉ ra rằng khuôn khổ quản trị công ty cần thúc đẩy tính minh bạch và hiệu quả của thị trường, phù hợp với quy định của pháp luật, và phân định rõ ràng trách nhiệm giữa các cơ quan giám sát, quản lý và cưỡng chế thực thi. Tại Việt Nam, Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ban hành ngày 20/11/2015, tại Điều 39 quy định “Kiểm soát nội bộ là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra”. Bên cạnh đó, Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 315 (VSA 315) đã đề cập “KSNB là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan.
Thuật ngữ “kiểm soát” được hiểu là bất cứ khía cạnh nào của một hoặc nhiều thành phần của kiểm soát nội bộ”. Nguyễn Hữu Ánh (2021), đã tổng quát “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi ban giám đốc, nhà quản lý và các thành viên của đơn vị, được thiết kế để cung cấp sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu về hoạt động, báo cáo và tuân thủ trong các tổ chức hoạt động”. 14 Hiệu quả KSNB là một quá trình bởi hệ thống KSNB không chỉ là một thủ tục hay một chính sách được thực hiện ở một vài thời điểm nhất định mà được vận hành liên tục ở tất cả mọi cấp độ trong tổ chức. Tóm lại, mặc dù khái niệm hiệu quả KSNB được xác định theo nhiều cách khác nhau và nhấn mạnh các khía cạnh khác nhau, điểm chung của các định nghĩa này là kiểm soát nội bộ là sự kiểm tra, quan sát, duy trì và quy tắc trong hoạt động của tổ chức với mục tiêu chung là đảm bảo độ tin cậy của thông tin, bảo vệ tài sản, đảm bảo hoạt động hiệu quả, kiểm soát rủi ro….KSNB trong một tổ chức không chỉ tập trung vào các hoạt động của tổ chức mà còn phải thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, trong đó mục tiêu chính là quản trị rủi ro hiệu quả.
Hiệu quả KSNB hoạt động cho vay là việc kiểm tra, giám sát đối với các cá nhân, bộ phận trong việc thực hiện cơ chế chính sách, quy trình, quy định nội bộ về cho vay nhằm đảm bảo hoạt động của NHTM đạt được các mục tiêu đề ra, đồng thời tuân thủ các quy định của pháp luật về cho vay. Trong Luận Văn này, khái niệm đươc sử dụng là dựa trên Báo cáo COSO 2013.2 Khái niệm về hiệu quả kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại Với đặc điểm của ngành ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, đối tượng kinh doanh là tiền tệ và các dịch vụ liên quan đến tiền tệ, quy trình phức tạp và mang đặc thù rủi ro cao, có tác động lớn tới nền kinh tế nên thực tiễn yêu cầu cần có một khuôn mẫu riêng về hiệu quả KSNB của ngành ngân hàng. Do đó, trên cơ sở COSO 1992, từ năm 1998, Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel committee on Banking supervision) là đại diện của các cơ quan giám sát nghiệp vụ ngân hàng và ngân hàng quốc gia các nước Vương quốc Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan, Ý, Canada, Thụy Điển, Nhật Bản và Hoa Kỳ đã ban hành công bố Báo cáo Basel I về khuôn khổ hiệu quả KSNB trong ngân hàng và thống nhất quan điểm: “Hiệu quả KSNB là quá trình được thực hiện bởi Hội đồng quản trị, Ban điều hành và toàn thể nhân viên. Đó không chỉ là một thủ tục hoặc một chính sách được thực hiện tại một thời điểm nào đó, mà còn tiếp diễn ở tất cả các cấp trong ngân hàng.
Hội đồng quản trị và Ban điều hành chịu trách nhiệm thiết lập môi trường văn hoá tạo thuận lợi cho quá trình hiệu quả KSNB được hiệu quả và việc theo dõi sự hiệu quả đó 15 được diễn ra liên tục. Mỗi cá nhân trong một tổ chức phải tham gia vào quá trình đó”. Trong khi Basel I chú trọng đến rủi ro tín dụng thì năm 1999, Ủy ban Basel đã đề xuất Basel II với khung đo lường mới gồm 3 trụ cột chính: (1) Yêu cầu vốn tối thiểu trên cơ sở Basel I, (2) sự xem xét của quá trình đánh giá nội bộ và mức độ đủ vốn của ngân hàng, (3) sự hiệu quả của việc công bố thông tin nhằm lành mạnh kỷ luật của thị trường như là một sự bổ sung cho nỗ lực giám sát. Đến tháng 6 năm 2011, phiên bản Basel III được ban hành đã cho rằng hiệu quả KSNB của ngân hàng gồm các bộ phận: (1) Sự giám sát của nhà quản lý và văn hóa kiểm soát, (2) ghi nhận và đánh giá rủi ro, (3) các hoạt động kiểm soát và phân chia trách nhiệm, (4) thông tin và truyền thông, (5) giám sát và điều chỉnh sai sót.
Ở Việt Nam, Quốc hội (2010) đã nêu khái niệm: “Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật” và “Hệ thống KSNB hiệu quả là tổng hợp những quy định, chính sách, quy trình, các thông lệ, cơ cấu tổ chức của NH, được thiết lập và tổ chức tiến hành để hoàn thành mục tiêu của NHNN và làm tốt công tác phòng ngừa, nhận biết và xử lý kịp thời các rủi ro xảy ra cũng như hoàn thành tốt yêu cầu”. Nhằm cụ thể hóa văn bản luật, Ngân hàng Nhà nước (2018) đã yêu cầu các NHTM triển khai xây dựng hệ thống hiệu quả KSNB theo quy định tại Thông tư số 13/2018/TT-NHNN về hệ thống hiệu quả KSNB của NHTM và chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Sau đây gọi tắt là Thông tư số 13). Thông tư đã nêu khái niệm về hệ thống hiệu quả KSNB và hiệu quả KSNB của NHTM như sau: “Hệ thống hiệu quả KSNB là tổng hợp những quy định, chính sách, quy trình, các thông lệ, cơ cấu tổ chức của NHTM, chi nhánh NH nước ngoài được hình thành tương ứng với chính sách của Luật các tổ chức tín dụng, Thông tư trên cùng những quy định của pháp luật có liên quan, được tổ chức tiến hành với mục đích kiểm tra, đề phòng, nhận biết, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra.