Tổng quan nghiên cứu

Đầu tư phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ là đòn bẩy then chốt để thúc đẩy nền kinh tế tri thức và gia tăng hàm lượng chất xám trong sản phẩm quốc gia. Tính đến tháng 12 năm 2016, Viện Ứng dụng Công nghệ trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đã hoàn thành đầu tư và đưa vào vận hành 14 phòng thí nghiệm chuyên ngành thuộc 7 hướng công nghệ trọng điểm như quang điện tử, laser, vi điện tử và công nghệ sinh học. Tuy nhiên, hiệu quả khai thác thực tế tại các đơn vị này vẫn chưa tương xứng với nguồn lực đã đầu tư, khi nguồn thu từ dịch vụ kỹ thuật chỉ bù đắp được khoảng 20% đến 30% chi phí vận hành thường xuyên và tình trạng thiếu đồng bộ trang thiết bị vẫn diễn ra phổ biến.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự thiếu vắng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động nghiên cứu khoa học, công tác đào tạo nhân lực trình độ cao và nhu cầu sản xuất thực tiễn của doanh nghiệp. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về mối liên kết tam giác Nghiên cứu khoa học - Đào tạo - Sản xuất, đánh giá toàn diện hiện trạng khai thác 14 phòng thí nghiệm tại Viện Ứng dụng Công nghệ trong giai đoạn 2011 - 2015, và đề xuất mô hình "Phòng thí nghiệm mở" gắn liền với cơ chế tự chủ tài chính. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung vào các phòng thí nghiệm trọng điểm tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc Viện. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu là cung cấp giải pháp gia tăng công suất sử dụng thiết bị lên mức trên 75%, nâng cao tốc độ thương mại hóa kết quả nghiên cứu và tạo nguồn thu tăng trưởng từ 15% đến 20% mỗi năm cho đơn vị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng mô hình liên kết tam giác tri thức Nghiên cứu khoa học - Đào tạo - Sản xuất, được phát triển dựa trên nền tảng lý thuyết Ba xoắn ốc (Triple Helix) về mối quan hệ tương tác giữa Viện nghiên cứu, Trường đại học và Doanh nghiệp. Mô hình chỉ ra hai luồng động lực phát triển then chốt: liên kết "KH&CN đẩy" (chuyển giao công nghệ và kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường) và liên kết "Thị trường kéo" (nghiên cứu theo đơn đặt hàng và bài toán thực tiễn từ doanh nghiệp). Đồng thời, tác giả kết hợp lý thuyết Hệ thống Đổi mới Quốc gia nhằm xác định vị thế trung tâm của phòng thí nghiệm trong việc hấp thụ, thích nghi và làm chủ công nghệ cao nhập khẩu từ nước ngoài.

Bốn khái niệm cốt lõi được xây dựng xuyên suốt công trình gồm:

  • Khai thác phòng thí nghiệm: Quá trình vận hành hạ tầng kỹ thuật để phục vụ thử nghiệm, kiểm chuẩn, nghiên cứu ứng dụng và cung cấp dịch vụ khoa học công nghệ theo chuẩn ISO/IEC 17025.
  • Doanh nghiệp Spin-off: Mô hình doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ được thành lập từ viện nghiên cứu nhằm trực tiếp thương mại hóa các sáng chế và bí quyết kỹ thuật.
  • Cơ chế tự chủ tổ chức KH&CN: Khung thể chế trao quyền chủ động về tài chính, bộ máy và nhiệm vụ khoa học theo tinh thần Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013.
  • Tiêu chí "Phòng thí nghiệm mở": Quy chế vận hành cho phép chia sẻ tài nguyên nghiên cứu dùng chung giữa viện, trường đại học và các tổ chức kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài kết hợp chặt chẽ giữa dữ liệu thứ cấp từ 15 báo cáo tổng kết giai đoạn 2011 - 2015 của Viện Ứng dụng Công nghệ, hồ sơ kỹ thuật của 14 phòng thí nghiệm, và dữ liệu sơ cấp thu thập qua khảo sát thực tế.

Cỡ mẫu khảo sát chuyên gia gồm 20 người, bao gồm Lãnh đạo Viện, Trưởng các phòng thí nghiệm, Giám đốc các trung tâm chuyên ngành và các nhà khoa học đầu ngành trực tiếp vận hành thiết bị. Tác giả lựa chọn phương pháp chọn mẫu chuyên gia có chủ đích nhằm tiếp cận trực tiếp những cá nhân có thẩm quyền ra quyết định và am hiểu sâu sắc về rào cản kỹ thuật cũng như cơ chế tài chính.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp thống kê so sánh chuỗi thời gian 5 năm là nhằm bóc tách chính xác mối quan hệ giữa cơ cấu nhân sự, chi phí đầu tư trang thiết bị với sản lượng đầu ra (bài báo quốc tế, sáng chế và hợp đồng chuyển giao). Timeline nghiên cứu được thực hiện thu thập số liệu và hoàn thiện phân tích từ năm 2016 đến năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu nhân lực tại Viện Ứng dụng Công nghệ giai đoạn 2011 - 2015 bộc lộ sự mất cân đối giữa các nhóm trình độ và nguy cơ già hóa đội ngũ chuyên gia. Tổng nhân lực khoa học công nghệ của Viện là 210 người (165 cán bộ biên chế và 45 cán bộ hợp đồng). Trong đó, nhân lực trình độ cao gồm 1 Giáo sư, 1 Phó Giáo sư, 15 Tiến sĩ và 33 Thạc sĩ, chiếm tỷ lệ 23,8%; nhóm kỹ sư và cử nhân chiếm tỷ lệ áp đảo với 54,8% (86 người). Đáng chú ý, cán bộ có độ tuổi từ 46 trở lên chiếm 30,0% (63 người), tập trung phần lớn ở các vị trí chủ trì đề tài lớn, trong khi đội ngũ trẻ dưới 35 tuổi (74 người, chiếm 35,2%) còn thiếu kinh nghiệm làm chủ các hệ thống máy móc phức tạp.

Thứ hai, hạ tầng 14 phòng thí nghiệm được đầu tư phân tán trên 7 trung tâm chuyên ngành nhưng hiệu suất vận hành thực tế chưa đạt công suất thiết kế. Hơn 85% nguồn vốn mua sắm thiết bị giai đoạn 2009 - 2015 đến từ nguồn sự nghiệp khoa học và vốn đầu tư phát triển của Nhà nước. Do thiếu hụt kinh phí duy tu định kỳ và phụ tùng thay thế tiêu hao, nhiều hệ thống đo kiểm quang học, laser và vật liệu mạ màng cứng bị gián đoạn hoạt động, thời gian máy chạy hữu ích chỉ đạt khoảng 35% đến 45% tổng quỹ thời gian hàng năm.

Thứ ba, mối liên kết thương mại hóa sản phẩm với khối doanh nghiệp sản xuất suy giảm rõ rệt so với giai đoạn trước. Nếu như trong thập niên 1990, Viện từng là cái nôi ươm tạo thành công các doanh nghiệp công nghệ lớn như Công ty FPT (thành lập năm 1988) hay NACENOPTO (thành lập năm 1992), thì trong giai đoạn 2011 - 2015, nguồn thu từ các hợp đồng dịch vụ kỹ thuật ngoài ngân sách chỉ đóng góp khoảng 18% vào tổng kinh phí hoạt động của hệ thống phòng thí nghiệm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên là do cơ chế vận hành phòng thí nghiệm vẫn mang nặng tính hành chính bao cấp, chưa chuyển đổi triệt để sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Việc quản lý phòng thí nghiệm bị phân tán theo từng trung tâm chuyên ngành dẫn đến hiện tượng khép kín, cục bộ, thiếu sự liên thông chia sẻ thiết bị giữa các nhóm nghiên cứu. So sánh với các bài học kinh nghiệm quốc tế như mô hình quản lý phòng thí nghiệm quốc gia của Hoa Kỳ hay hệ thống viện nghiên cứu tại Nhật Bản, các phòng thí nghiệm ở Việt Nam còn thiếu các chỉ số đo lường hiệu suất gắn với trách nhiệm cá nhân của trưởng phòng thí nghiệm.

Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, toàn bộ dữ liệu hiện trạng được tổng hợp vào bảng ma trận SWOT và biểu đồ cơ cấu nguồn thu - chi giai đoạn 2011 - 2015. Phân tích trực quan chỉ ra rằng điểm nghẽn lớn nhất nằm ở trục tương tác giữa Viện nghiên cứu và Doanh nghiệp sản xuất: viện nghiên cứu tạo ra công nghệ nhưng thiếu kênh thử nghiệm thị trường, trong khi doanh nghiệp phải nhập khẩu công nghệ nước ngoài với chi phí cao gấp 3 đến 5 lần.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Chuyển đổi mô hình quản trị sang cơ chế "Phòng thí nghiệm mở" (Open Laboratory): Ban hành quy chế cho phép các trường đại học, viện nghiên cứu bạn và doanh nghiệp tiếp cận, thuê sử dụng máy móc thiết bị nhàn rỗi; nâng công suất vận hành máy lên tối thiểu 55 giờ/tuần; hoàn thành triển khai trong 12 tháng do Ban Quản lý Đầu tư và Phát triển Dự án cùng các Trưởng phòng thí nghiệm chủ trì.
  • Thiết lập Quỹ tái đầu tư và duy tu bảo dưỡng trang thiết bị: Trích lập từ 15% đến 20% doanh thu của các hợp đồng dịch vụ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ để tạo nguồn kinh phí chủ động cho việc kiểm chuẩn định kỳ theo chuẩn ISO/IEC 17025; thực hiện liên tục trong lộ trình 2018 - 2022 do Ban Kế hoạch - Tài chính điều phối.
  • Tái khởi động mô hình doanh nghiệp spin-off công nghệ cao: Thành lập các công ty thành viên trực thuộc Trung tâm Ươm tạo công nghệ và Doanh nghiệp KHCN nhằm trực tiếp thương mại hóa các sản phẩm mũi nhọn như thiết bị laser y tế, màng phủ cứng nano và cảm biến sinh học; mục tiêu nâng tỷ trọng doanh thu tự chủ ngoài ngân sách lên 35% vào năm 2023.
  • Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ nghiên cứu của phòng thí nghiệm với đào tạo sau đại học: Tận dụng giấy phép đào tạo Tiến sĩ ngành Kỹ thuật điện tử (mã số 62.03 theo Quyết định số 2000/QĐ-BGDĐT năm 2015) để đưa nghiên cứu sinh và học viên cao học trực tiếp tham gia vận hành các đề tài cấp Nhà nước; giao chỉ tiêu mỗi phòng thí nghiệm hướng dẫn từ 2 đến 4 luận án tiến sĩ và 5 đến 8 học viên thạc sĩ mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Lãnh đạo và cán bộ quản lý tại các Viện nghiên cứu ứng dụng công lập: Cung cấp khung phương pháp đánh giá thực trạng cơ sở vật chất và giải pháp tái cơ cấu tổ chức phòng thí nghiệm đa ngành từ quy mô 10 đến 20 đơn vị trực thuộc.
  • Chuyên viên hoạch định chính sách tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính: Cung cấp bằng chứng thực tiễn về những điểm nghẽn thể chế khi thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định 115 và căn cứ để ban hành quy định chia sẻ hạ tầng nghiên cứu dùng chung.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ: Sử dụng làm tài liệu tham khảo giá trị về mô hình tam giác tri thức, phương pháp khảo sát chuyên gia và hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả khai thác hạ tầng R&D.
  • Doanh nghiệp sản xuất trong lĩnh vực công nghệ cao và tự động hóa: Tìm kiếm cơ hội hợp tác sử dụng chung phòng thử nghiệm, rút ngắn thời gian kiểm chuẩn sản phẩm và tiết kiệm từ 30% đến 40% chi phí đầu tư phòng lab nội bộ.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình "Phòng thí nghiệm mở" mang lại lợi ích cụ thể nào cho các đơn vị trực thuộc Viện Ứng dụng Công nghệ? Mô hình này tối ưu hóa công suất vận hành của 14 phòng thí nghiệm bằng cách cho phép các tổ chức bên ngoài thuê máy móc và cùng hợp tác nghiên cứu. Nhờ đó, đơn vị có thể tạo thêm nguồn thu dịch vụ tăng từ 20% đến 30%, trang trải toàn bộ chi phí mua sắm vật tư tiêu hao mà không cần chờ phân bổ ngân sách nhà nước.

Tại sao cơ chế tự chủ theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP lại gặp khó khăn khi triển khai tại các phòng thí nghiệm? Khó khăn lớn nhất là do thiếu thị trường công nghệ hoàn chỉnh và chưa có quy chế hạch toán giá dịch vụ thử nghiệm đầy đủ. Trong giai đoạn 2011 - 2015, hơn 80% kinh phí duy trì thiết bị tại Viện vẫn phụ thuộc ngân sách giao khoán theo đề tài, khiến các phòng thí nghiệm chưa có động lực chủ động tìm kiếm hợp đồng từ doanh nghiệp.

Hoạt động đào tạo Tiến sĩ đóng vai trò như thế nào trong việc gia tăng hiệu quả khai thác phòng thí nghiệm? Việc Viện được cấp phép đào tạo Tiến sĩ chuyên ngành Kỹ thuật điện tử năm 2015 đã tạo ra lực lượng nghiên cứu sinh tại chỗ trực tiếp tham gia vận hành máy móc từ 30 đến 40 giờ mỗi tuần. Đây là lực lượng nòng cốt giúp gia tăng số lượng bài báo khoa học và hỗ trợ thực hiện thành công các đề tài cấp Nhà nước.

Làm thế nào để các doanh nghiệp tư nhân có thể tiếp cận và hợp tác với hệ thống phòng thí nghiệm của Viện? Doanh nghiệp có thể hợp tác qua 3 phương thức: ký hợp đồng dịch vụ đo kiểm, thử nghiệm sản phẩm theo chuẩn chất lượng; đặt hàng nghiên cứu hoàn thiện mẫu chế thử công nghệ mới; hoặc liên kết thành lập công ty spin-off để cùng khai thác thương mại các sáng chế độc quyền với tỷ lệ chia sẻ lợi nhuận linh hoạt.

Những tiêu chuẩn kỹ thuật nào quyết định trực tiếp đến độ tin cậy của kết quả thử nghiệm tại phòng lab? Độ tin cậy phụ thuộc vào việc xây dựng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO/IEC 17025, kiểm soát nghiêm ngặt độ ẩm và nhiệt độ môi trường, thực hiện chu kỳ hiệu chuẩn thiết bị đúng hạn và đảm bảo 100% kiểm nghiệm viên có chứng chỉ chuyên môn tương ứng. Việc bỏ qua các quy chuẩn này có thể gây sai lệch kết quả phân tích từ 5% đến 10%.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện bức tranh hiện trạng và năng lực vận hành của 14 phòng thí nghiệm thuộc 7 hướng nghiên cứu tại Viện Ứng dụng Công nghệ giai đoạn 2011 - 2015.
  • Xác định 3 điểm nghẽn cốt lõi gồm: sự mất cân đối nhân lực kế cận, thiếu kinh phí duy tu thiết bị và sự tách rời giữa nghiên cứu viện với thị trường sản xuất kinh doanh.
  • Thiết lập khung lý thuyết liên kết tam giác NCKH - Đào tạo - Sản xuất với mô hình ba trụ cột: cá nhân hóa trách nhiệm phòng lab, tự chủ tài chính thực chất và vận hành phòng thí nghiệm mở.
  • Đề xuất 4 giải pháp mang tính hành động cao nhằm nâng hiệu suất khai thác thiết bị lên trên 75% và nâng tỷ trọng nguồn thu tự chủ ngoài ngân sách lên 35%.
  • Cung cấp mô hình tham chiếu thực tiễn cho công tác quản trị cơ sở vật chất và chuyển giao công nghệ tại các tổ chức khoa học công nghệ công lập trên phạm vi toàn quốc.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi Viện Ứng dụng Công nghệ cần nhanh chóng hoàn thiện quy chế quản lý tài sản dùng chung trong giai đoạn 2018 - 2020 và xây dựng hệ thống quản trị chất lượng đạt chuẩn quốc tế trước năm 2025. Các cấp quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động phối hợp chặt chẽ để đưa hệ thống phòng thí nghiệm trở thành động lực đổi mới sáng tạo vững chắc cho nền công nghiệp nước nhà.