CHƯƠNG 1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BÀO TRÌ VÀ BẢO TRÌ HIỆU SUẤT TOÀN DIỆN (TPM) 1.1 Tổng quan về bảo trì 1.1 Định nghĩa bảo trì Trong thời đại hiện nay, máy móc và thiết bị đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hầu hết mọi lĩnh vực. Vì vậy, bảo trì các loại máy móc thiết bị cũng ngày càng được các nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm hơn. Bảo trì là một thuật ngữ quen thuộc.
Tuy nhiên, để hiểu rõ vai trò, chức năng và các hoạt động liên quan đến bảo trì lại không dễ dàng. Tùy theo quan điểm của mỗi tổ chức, mỗi cơ quan mà thuật ngữ bảo trì được định nghĩa khác nhau như: - Theo định nghĩa của Afnor (Pháp) Bảo trì là tập hợp các hoạt động nhằm duy trì hoặc phục hồi một tài sản ở tình trạng nhất định hoặc bảo đảm một dịch vụ xác định - Thao định nghĩa của BS 3811:1984 (Anh) : Bảo trì là tập hợp tất cả các hành động kỹ thuật và quản trị, nhằm giữ cho thiết bị luôn ở, (hoặc phục hồi nó về) một tình trạng, mà trong đó nó có thể thực hiện chức năng yêu cầu. Chức năng yêu cầu này có thể định nghĩa như là một tình trạng xác định nào đó. (Phạm Ngọc Tuấn, 2012, trang 29) Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về bảo trì nhưng theo tác giả hiểu bảo trì là bao gồm tất cả các hoạt động được thực hiện nhằm giữ cho máy móc, thiết bị luôn hoạt động trong điều kiện tốt.2 Lịch sử bảo trì Trên thế giới bảo trì đã phát triển qua ba thế hệ như sau: Thế hệ thứ nhất: Bắt đầu giai đoạn trước chiến tranh thế giới thứ II.
Trong giai đoạn này công nghiệp chưa phát triển. Việc chế tạo và sản xuất được thực hiện bằng các máy móc còn đơn giản, thời gian ngừng máy ít ảnh hưởng đến sản xuất, do đó công việc bảo trì cũng rất 5 đơn giản. Bảotrì không ảnh hưởng lớn về chất lượng và năng suất. Vì vậy, ý thức ngăn ngừa các thiết bị hư hỏng chưa được phổ biến trong đội ngũ quản lý.
Do đó, không cần thiết phải có các phương pháp bảo trì hợp lý cho các máy móc. Bảo trì lúc bấy giờ là sửa chữa các máy móc và thiết bị khi có hư hỏng xảy ra. Thế hệ thứ hai:Mọi thứ đã thay đổi trong suốt thời kỳ chiến tranh thế giới thứ II. Vào những năm 1950, máy móc các loại đã được đưa vào sản xuất nhiều hơn và phức tạp hơn.
Công nghiệp bắt đầu phụ thuộc vào chúng. Do sự phụ thuộc ngày càng tăng, thời gian ngừng máy ngày càng được quan tâm nhiều hơn. Đôi khi có một câu hỏi được nêu ra là "con người kiểm soát máy móc hay máy móc điều khiển con người ". Nếu công tác bảo trì được thực hiện tốt trong nhà máy thì con người sẽ kiểm soát được máy móc.
Ngược lại máy móc hư hỏng sẽ gây khó khăn cho con người. Thế hệ thứ ba: Những năm 1970, công nghiệp thế giới đã có những thay đổi lớn lao. Những thay đổi này đòi hỏi và mong đợi ngày càng nhiều hơn.1: Những mong đợi đối với bảo trì đang ngày càng tăng. “Nguồn: Quản lý bảo trì công nghiệp, trang 10” [5] 6 1.3 Vai trò bảo trì đối với hoat đông doanh nghiêp Ngày nay bảo trì đóng một vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động sản xuất, nó có thể so sánh với vai trò như một đội cứu hỏa.
Khi có đám cháy xảy ra, đòi hỏi phải được dập tắt càng nhanh càng tốt để tránh những thiệt hại lớn.Tuy nhiên, dập tắt lửa không phải là nhiệm vụ chính của đội cứu hỏa mà công việc chính của họ là phòng ngừa không cho đám cháy xảy ra. Cho nên, vai trò chính của bảo trì là phòng ngừa để cho máy móc không bị hư hỏng. Vai trò thứ hai, bảo trì là đ ả m b ả o cực đại hóa năng suất của máy móc, năng suất cao là nhờ đảm bảo hoạt động đúng yêu cầu và liên tục tương ứng với tuổi thọ của máy dài hơn; nhờ chỉ số khả năng sẵn sàng của máy cao nhất và thời gian ngừng máy để bảo trì nhỏ nhất; nhờ cải tiến liên tục quá trình sản xuất. Vai trò thứ ba, bảo trì là tối ưu hóa hiệu suất của máy, khi đó máy móc vận hành có hiệu quả và ổn định hơn, chi phí vận hành ít hơn, đồng thời làm ra sản phẩm đạt chất lượng hơn, tạo ra môi trường làm việc an toàn hơn.
Hiện nay, bảo trì ngày càng trở nên quan trọng. Ở những quốc gia đang phát triển, có nhiều máy móc cũ đang hoạt động. Vấn đề phụ tùng là yếu tố cần quan tâm, bởi vì khó tìm phụ tùng thay thế cho thiết bị, giá thành cũng rất cao. Nếu công tác bảo trì tốt, hậu quả của các hư hỏng sẽ được giảm tối thiểu.4 Phân loại bảo trì Nhu cầu bảo trì máy móc thiết bị xuất hiện từ khi loài người bắt đầu sản xuất.
Ngành bảo trì đã trải qua các bước phát triển từ thấp đến cao, từ bị động đến chủ động. Bảo trì trên thực tế có 2 loại bảo trì phòng ngừa và bảo trì hư hỏng (sửa chữa). Mỗi loại bảo trì đều có ưu điểm, nhược điểm. Cụ thể như sau: 7 1.1 Phương pháp bảo trì sửa chữa( Breakdown Maintenance) Đây là phương pháp bảo trì lạc hậu nhất.Thực chất lịch bảo trì quyết định khi máy móc bị hỏng và con người hoàn toàn bị động.
Khi máy hỏng, sản xuất bị ngưng lại và công tác bảo dưỡng mới được thực hiện. Phương pháp bảo trì này có rất nhiều nhược điểm, như: gây dừng máy bất thường ; không ngăn ngừa được sự xuống cấp của thiết bị; sự hư hỏng của các máy móc có thể gây tai nạn, làm cho các nhà quản lý sản xuất bị động trong việc lên kế hoạch sản xuất; ảnh hưởng đến khả năng cung ứng sản phẩm trên thị trường, giảm tính cạnh tranh của sản phẩm. Do thời điểm xảy ra các hỏng hóc thường ngẫu nhiên, bất ngờ nên các nhà quản lý bảo trì luôn bị động trong việc chuẩn bị các chi tiết thay thế, bố trí các công tác sửa chữa làm kéo dài thời gian dừng máy gây chi phí lớn. Trong một số trường hợp, thậm chí đã chuẩn bị rất nhiều các chi tiết thay thế nhưng do tính đa dạng và khó dự đoán của các hư hỏng nên khối lượng các chi tiết vẫn rất lớn gây tốn kém.
Một khuyết điểm khác của phương pháp này là các hư hỏng ở một cụm máy móc nào đó do không kịp ngăn chặn có thể gây hư hỏng dây chuyền làm nguy hiểm đến các bộ phận máy khác gây tai nạn cho người sử dụng. Do các hạn chế trên, nên phương pháp này hầu như không được áp dụng nữa tại các nhà máy tiên tiến.2 Bảo trì phòng ngừa(Preventive maintenance) Phương pháp này có thể thực hiện theo 4 hướng : Thứ nhất là bảo dưỡng phòng ngừa theo thời gian ( Preventive maintenance-Time based maintenance) Đây là phương pháp bảo trì hiện nay được áp dụng hầu hết các nhà máy, dây chuyển sản xuất.Trên thế giới, phương pháp này đã được phát triển và phổ biến từ những năm 1950. 8 Nội dung chủ yếu của phương pháp này là các máy móc thiết bị trong dây chuyền sản xuất sẽ được sửa chữa, thay thế định kỳ theo thời gian. Về mặt lý thuyết, dường như đây là phương pháp khá lý tưởng.
Tuy nhiên, trong thực tế phương pháp này vẫn bộc lộ khá nhiều nhược điểm; như: - Thứ nhất là việc xác định chu kỳ thời gian để dừng máy. Do phân bổ của các hư hỏng theo thời gian rất khác nhau nên việc xác định các chu kỳ sửa chữa thích hợp cho toàn bộ dây chuyển rất khó.Nếu khoảng thời gian giữa hai lần dừng máy dài, các hư hỏng có thể xuất hiện giữa hai lần dừng máy gây ra dừng máy bất thường. Nếu khoảng thời gian giữa hai lần dừng máy ngắn , khối lượng sửa chữa thay thế lớn, một số chi tiết vẫn còn dùng được nhưng đến thời hạn vẫn thay thế gây lãng phí. - Thứ hai, do chủng loại máy móc thiết bị có thể hư hỏng cần sửa chữa bảo trì trong mỗi đợt dừng máy của nhà máy thường rất đa dạng, khối lượng chi tiết thay thế,bố trí nhân lực,vật lực cho mỗi lần dừng máy rất lớn.
Nhưng, thực tế các chi tiết cần thay thế sửa chữa lại không nhiều gây lãng phí. - Thứ ba, các máy móc thiết bị có thể bị hư hỏng do sự bất cẩn của công nhân trong quá trình kiểm tra, bảo trì. Một số loại máy dễ hư hỏng, mòn hay giảm tuổi thọ do việc tháo lắp vào nhiều lần Thứ hai là bảo trì phòng ngừa theo tình trạng máy ( Preventive maintenance- condition- based maintenance) Đây là phương pháp bảo trì phòng ngừa tiên tiến được phát triển từ bảo trì phòng ngừa theo thời gian, và được áp dụng trong các ngành công nghiệp khoảng từ giữa năm 1950. Nội dung chính của phương pháp này là: Trạng thái và các thông số làm việc của máy móc thiết bị hoạt động trong dây chuyền sẽ được giám sát bởi hệ thống giám sát và chuẩn đoán tình trạng thiết bị.
Hệ thống giám sát sẽ chịu giám sát các hiện tượng xuất hiện trong quá trình làm việc của thiết bị như tiếng ồn, độ rung, nhiệt độ…,kiểm tra tình trạng thực tế của thiết bị, phát hiện các trạng thái bất thường cuả thiết bị, qua đó xác định xu hướng hư hỏng 9 thiết bị. Hệ thống phân tích và chuẩn đoán tình trạng thiết bị sẽ chịu trách nhiệm phân tích các kết quả thu được từ hệ thống giám sát , thông báo chính xác vị trí , mức độ hư hỏng giúp người sử dụng kịp thời điều chỉnh hoặc thay thế các phần hư hỏng, tránh các hư hỏng theo dây chuyền. Thứ ba bảo trì hiệu suất (Productive maintenance- PM ) Vào cuối năm 1950 hãng Genegal Electric đưa Bảo trì hiệu suất , tức là bảo trì nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả. Xuất phát từ nhược điểm của bảo trì phòng ngừa theo thời gian.
Bảo trì hiệu suất là loại hình bảo trì nâng cao hiệu suất của doanh nghiệp nhờ giảm các chi phí do máy móc thiết bị từ chi phí vận hành , bảo dưỡng đến các thiệt hại do thiết bị xuống cấp. Bảo trì hiệu năng đã phát triển qua các giai đoạn bảo trì hiệu chính (Corrective maintenance), phòng ngừa bảo trì( Maintenance Prevention) và bảo trì hiệu suất hiện đại.