Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ PHƢƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Vị trí, tính chất của Hội đồng nhân dân cấp xã Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) khẳng định: "Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…" [35].
Với khẳng định trên, ở nước ta nguồn gốc, bản chất quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. "Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân" [35]. Trong hệ thống HĐND các cấp, HĐND cấp xã (cấp xã gồm: xã, phường, thị trấn) có vị trí, vai trò quan trọng, là nơi gần dân hơn, sát dân hơn, thường xuyên tiếp xúc với dân, trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại địa phương; là nơi để người dân bày tỏ trực tiếp ý chí, nguyện vọng của mình, đóng góp ý kiến xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân và là nơi trực tiếp quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh. Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, HĐND cấp xã đã khẳng định được vị trí, vai trò, trách nhiệm to lớn của mình.
HĐND thực sự trở thành diễn đàn để nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ Nhà nước và xã hội. Sự hiện diện của HĐND dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện được tính chất giai cấp sâu sắc, tính nhân dân thực sự của nhà nước, tạo nên niềm tin vững chắc cho nhân dân về một chính quyền của dân, do dân, vì dân. 16 z Điều 119 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Điều 1 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định: "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên" [35]. Từ những quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, có thể khái quát vị trí, tính chất của HĐND cấp xã như sau: * Tính chất: HĐND cấp xã là cơ quan đại diện của nhân dân địa phương Ở địa phương, HĐND là cơ quan duy nhất do cử tri bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Đại biểu HĐND là những người tiêu biểu, ưu tú, đại diện cho ý chí và quyền làm chủ của nhân dân. Tính chất đại diện của HĐND về mặt hình thức thể hiện rõ nét nhất ở chỗ HĐND có cơ cấu đại biểu thuộc mọi tầng lớp, mọi thành phần xã hội. Điều đó có nghĩa, HĐND không đại diện cho một Đảng phái, tổ chức nào mà đại diện cho toàn thể nhân dân địa phương; thành phần trong HĐND thể hiện khối đại đoàn kết toàn dân. tính chất đại diện của HĐND khác với tính chất đại diện của Quốc hội.
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, đại biểu Quốc hội là người đại diện cho nhân dân cả nước. Còn HĐND là cơ quan đại diện của nhân dân địa phương bầu ra mình, đồng thời chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. * Vị trí: HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Trong bài "Dân vận" đăng trên báo Sự thật, Bác Hồ đã viết: "Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân" [25, tr. Điều đó cho thấy nguồn gốc, bản chất quyền lực nhà nước là quyền lực nhân dân.
17 z HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng về kinh tế, văn hóa - xã hội … ở địa phương; đồng thời giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của HĐND các cấp ở cơ sở, thể hiện trên các mặt sau đây: - Căn cứ vào quy định của pháp luật, HĐND cấp xã bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh trong tổ chức của mình (Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND cấp xã); - Căn cứ vào quy định của pháp luật, HĐND cấp xã bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh Chủ tịch, Phó chủ tịch và các thành viên khác của UBND cùng cấp (là cơ quan chấp hành của mình, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương); - Căn cứ vào quy định của Hiến pháp và pháp luật, HĐND cấp xã ban hành các Nghị quyết để triển khai các mặt công tác ở địa phương; - HĐND cấp xã giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương. Tính chất đại diện và vị trí cơ quan quyền lực nhà nước của HĐND cấp xã có quan hệ biện chứng với nhau. Tính đại diện là tiền đề đảm bảo để HĐND cấp xã trở thành cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Và chỉ có thể là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND cấp xã mới có đủ quyền năng thực hiện tính chất đại diện cho nhân dân, thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương.
Với vị trí, tính chất được quy định trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì HĐND cấp xã vừa là một cơ quan trong bộ máy nhà nước, vừa là chủ thể quyền lực, đại diện cho nhân dân địa phương. Chính vị trí, tính chất này đã quyết định chức năng của HĐND cấp xã. Chức năng của Hội đồng nhân dân cấp xã Chức năng của HĐND cấp xã là những phương diện hoạt động chính, chủ yếu của HĐND. 18 z Căn cứ vào Điều 1, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, HĐND cấp xã có 2 chức năng: Quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương và giám sát.
Chức năng quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương Điều 1, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định: Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước [36]. Để có cơ sở pháp lý thực hiện tốt chức năng này, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định HĐND cấp xã có quyền quyết định trên các lĩnh vực sau: + Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (Điều 29) + Quyết định về phát triển giáo dục, y tế, xã hội và đời sống, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, bảo vệ tài nguyên và môi trường (Điều 30) + Quyết định về quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội (Điều 31) + Quyết định về thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo (Điều 32) + Quyết định về việc thi hành pháp luật (Điều 33) + Quyết định về việc xây dựng chính quyền địa phương (Điều 34) Như vậy, nội dung chức năng quyết định của HĐND cấp xã rất rộng, bao gồm mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học, quốc phòng, an ninh. Điều này một lần nữa khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của HĐND cấp xã. Mặt khác, đây cũng là những căn cứ pháp lý tạo môi trường thuận lợi để chính quyền địa phương khai thác hết mọi tiềm năng, nội 19 z lực sẵn có của mình, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân địa phương, làm tròn mọi nhiệm vụ mà nhân dân và cấp trên giao cho.
Chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã Giám sát là chức năng quan trọng của HĐND nói chung và HĐND cấp xã nói riêng. Để nhận thức đúng đắn bản chất, nội dung và phương thức hoạt động giám sát của HĐND cấp xã, trước hết cần làm rõ khái niệm "giám sát". - Có quan niệm cho rằng "giám sát" là: "Sự theo dõi, xem xét, làm đúng hoặc sai những điều đã quy định" [40, tr. - Quan niệm khác coi "giám sát là việc theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không" [39, tr.
- Có ý kiến chỉ coi "giám sát là một nhóm hoặc là một tổ chức để theo dõi người, việc nào đấy" [43, tr. - Với cách tiếp cận mang tính hệ thống, tính khoa học pháp lý, có ý kiến lại cho rằng: Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được những mục đích, hiệu quả xác định từ trước, bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh [42, tr. Tuy cách diễn đạt và biểu hiện ý nghĩa của từ "giám sát" có khác nhau, nhưng các quan niệm trên đều đề cập đến nội dung cơ bản: giám sát là việc theo dõi, xem xét và kiểm tra một chủ thể nào đó trong một công việc, lĩnh vực cụ thể đã thực hiện đúng hay chưa những điều đã quy định; từ đó có biện pháp điều chỉnh hoặc xử lý đối với những hành vi sai lệch, nhằm đạt được mục đích, hiệu quả xác định từ trước, đảm bảo cho các quy định được thực hiện đúng và đầy đủ. 20 z Với quan niệm trên giám sát có những đặc trưng sau: - Giám sát luôn luôn gắn với một chủ thể nhất định.
Tức là phải trả lời được câu hỏi cá nhân hoặc tổ chức nào có quyền theo dõi, xem xét, đánh giá một việc đã được thực hiện là đúng hay sai những điều đã quy định? - Giám sát luôn luôn gắn với một đối tượng nhất định. Tức là phải trả lời được câu hỏi giám sát ai và giám sát việc gì? - Giám sát phải thể hiện được quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động giám sát.