mở đầu cho một trong những hình thức giám sát của Quốc hội. Tại thời kỳ lịch sử này do cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước có những điểm đặc biệt nên chủ thể của hoạt 17 động chất vấn là tập thể chứ không phải là cá nhân đại biểu Quốc hội đó là Nghị viện và Ban thường vụ và theo quy định thì Thủ tướng phải chịu trách nhiệm về hoạt động của Nội các do vậy các Bộ trưởng trong nội các là người phải trả lời chất vấn thông qua văn bản (thư chất vấn) của chủ thể có quyền chất vấn theo quy định của pháp luật. So với Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 đã quy định tương đối cụ thể hoạt động giám sát của Quốc hội, theo đó Quốc hội ' Igim sát việc thi hành Hiến pháp) (Điều 50). Quyên giám sát của Quốc hội còn thể hiện qua việc Hiến pháp quy định cụ thể các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội về hoạt động của mình; Quốc hội có quyền bãi miễn các chức danh quan trọng của Nhà nước do Quốc hội bầu hoặc cử ra.
Về hoạt động chất vấn, với tư cách là thành viên của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đại biểu Quốc hội có quyén “ Các đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Hội đông Chính phủ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phú. Cơ quan bị chất vấn phải trả lời trong thời hạn 5 ngày, trường hop can phải điều tra thì thời han trả lời là I tháng. Theo Hiến pháp 1959 thì “ tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thuộc về nhân dân” và nhân dân su dụng quyền luc cua mình thông qua A 99 Quốc hội.do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân” nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua đại biểu Quốc hội - những người đại diện trực tiếp do nhân dân bầu ra. Do vậy Hiến pháp cũng quy định quyền chất vấn là quyền của cá nhân đại biểu Quốc hội chứ không phải là quyền của tập thể như trước kia.
Đại biểu Quốc hội phải nắm bắt được nguyện vọng, những vấn đề bức xúc của nhân dân để phản ánh với các cơ quan nhà nước thông qua hoạt động của mình, mà cụ thể là chất vấn Hội đồng Chính phủ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ về những vấn đề nhân dân có ý kiến. Khi thực hiện nhiệm vụ này, đại biểu Quốc hội sẽ chịu trách nhiệm trước nhân dân, những cử tri đã bỏ phiếu cho mình. 18 Điều 42 Luật Tổ chức Quốc hội năm 1960 đã cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về hoạt động chất vấn như sau: “ Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Hội đồng Chính phú và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phi. Lời chất vấn do Chủ tịch đoàn hoặc trong thời gian Quốc hội không họp thì do Uỷ ban thường vụ Quốc hội chuyển cho cơ quan bị chất vấn để trả lời trước Quốc hội hoặc trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội”.
Quy định này cho thấy hoạt động chất vấn có thể được thực hiện trong kỳ họp của Quốc hội cũng như trong thời gian Quốc hội không họp, quy trình thực hiện chất vấn trong các thời gian khác nhau cũng được quy định rõ ràng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung của đại biểu Quốc hội nói riêng được thực hiện liên tục không bị gián đoạn bởi thời gian Quốc hội không họp. Theo quy định của Hiến pháp 1980 được cụ thể hóa trong Luật tổ chức Quốc hội 1981, Quốc hội được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ (Điều 6), “ Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 82). Do vậy hoạt động giám sát của Quốc hội mà cụ thể là hoạt động của đại biểu Quốc hội được kế thừa và hòan thiện hơn, thể hiện sự gắn bó giữa Quốc hội và nhân dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước ma cụ thể là thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, xét báo cáo công tác của Hội đồng nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.Cu thể là quyên chất vấn của đại biểu Quốc hội được kế thừa và hoàn thiện hơn không chỉ đối với Hội đồng Bộ trưởng, các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng mà còn đối với cả Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
“ Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Hội đông Bộ trưởng và các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân 19 dân tối cao. Cơ quan hoặc người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội trong kỳ họp của Quốc hội. Trong trường hop cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Hội đồng Nhà nước hoặc tại kỳ họp sai của Quốc hội. Đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước.
Những người phụ trách các cơ quan này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét và giải quyết những kiến nghị của đại biểu. ” (Điều 95, Hiến pháp năm 1980) Điều 59 Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981 quy định “ Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Hội đồng Bộ trưởng và các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Khi Quốc hội họp, đại biểu Quốc hội gửi những chất vấn đến Chủ tịch Quốc hội để Chủ tịch Quốc hội chuyển cho các cơ quan hoặc người bị chất vấn. Khi đại biểu chất vấn Hội đông Bộ trưởng thì Chủ tịch Hội đông Bộ trưởng hoặc một thành viên duoc uy nhiệm cua Hội dong Bộ trưởng trả lời.
Khi đại biểu chất vấn một thành viên được uy nhiệm của Hội đông Bộ trưởng thì thành viên đó trả lời. Cơ quan hoặc người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp đó của Quốc hội. Trong trường hop can điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Hội đồng Nhà nước hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội. Giữa hai kỳ họp Quốc hội đại biểu Quốc hội gửi chất vấn đến Chủ tịch Hội đồng Nhà nước để Chủ tịch Hội đông nhà nước chuyển cho các cơ quan và người bị chất vấn.
Cơ quan hoặc người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhà nước hoặc theo quyết định của Hội đồng nhà nước trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp gan nhất ”. Theo quy định của luật này thì hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội sẽ là tiền đề cho việc xác định trách nhiệm của cơ quan hoặc người bị chất 20 vấn “ Khi cần thiết, Quốc hội hoặc Hội đông nhà nước ra nghị quyết về việc trả lời và trách nhiệm của những người hoặc cơ quan bị chất vấn ” (Điều 60). Để cụ thể hơn quy trình chất vấn của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp của Quốc hội cũng như khi Quốc hội không họp, trong Quy chế hoạt động của Đại biểu Quốc hội năm 1981 có quy định “ Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Hội đồng Bộ trưởng, các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Khi Quốc hội họp, đại biểu Quốc hội gửi chất vấn đến Chủ tịch Quốc hội.
Cơ quan hoặc người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp đó. Khi đại biểu Quốc hội chất vấn một thành viên của Hội đồng Bộ trưởng thì thành viên đó phải trả lời. Trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội quyết định thời gian trả lời trước Hội đồng nhà nước hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội. Khi Quốc hội không họp thì những chất vấn được gửi đến Chủ tịch Hội đồng nhà nước để Chủ tịch Hội đông nhà nước chuyển đến cơ quan hoặc người bị chất vấn và quyết định rõ việc trả lời.
Nếu đại biểu Quốc hội chưa thỏa man với sự trả lời thì có thể dé nghị Chủ tịch Hội đông nhà nước hoặc Chủ tịch Hội đồng nhà nưóc đưa ra thảo luận trước Quốc hội hoặc Hội đồng nhà nước. Khi cần thiết, Quốc hội hoặc Hội đông nhà nước ra nghị quyết về việc trả lời và trách nhiệm của cơ quan hoặc người bị chất vấn. Những quy định của pháp luật hiện hành về chất vấn và trả lời chất vấn Từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa IX đến nay về tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội đã có nhiều đổi mới, các hình thức hoạt động của Quốc hội ngày càng được cải tiến. Quốc hội ngày càng thực hiện tốt hơn nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật.
Tổ chức của Quốc hội đã được tăng cường, sinh hoạt dân chủ được phát huy trong quá trình thảo luận, 21 quyết định những vấn dé thuộc thẩm quyền của Quốc hội. Vai trò của Quốc hội được đề cao trong đời sống chính trị, hoạt động của Quốc hội đã bao quát nhiều mặt và dần đi vào thực chất nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước thúc đẩy tiến trình hội nhập khu vực và thế gidi. Kế thừa quy định của Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 (Điều 83) tiếp tục khẳng định quyền giám sát tối cao của Quốc hội, theo đó Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Để thực hiện tốt chức năng này, của các Đại biểu Quốc hội đóng vai trò rất quan trọng.
Vị trí pháp lý của Đại biểu Quốc hội trong Hiến pháp 1992 về cơ bản vẫn tiếp tục kế thừa các quy định trong Hiến pháp 1980, theo đó đại biểu Quốc hội do nhân dân bầu ra, là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước. Thời kỳ này các văn bản pháp luật quy định về hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội khá đầy đủ, cụ thể và toàn diện làm cơ sở cho việc thực hiện hoạt động này một cách hiệu quả.