Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Hoạt động của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay", chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính (mã số 9.38 01 02), do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hoàn thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trương Thị Hồng Hà (Hà Nội, 2019).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (Điều 3) xác định hiệu quả hoạt động của Quốc hội được bảo đảm bởi hiệu quả của các kỳ họp, hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và từng cá nhân đại biểu Quốc hội (ĐBQH). Chủ trương của Đảng qua các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI và XII đều nhất quán định hướng: nâng cao chất lượng đại biểu, tăng hợp lý tỷ lệ đại biểu chuyên trách, hoàn thiện cơ chế để đại biểu gắn bó và chịu trách nhiệm trước cử tri.

Mặc dù chất lượng và năng lực của đại biểu đã từng bước được nâng lên, thực tiễn hoạt động của ĐBQH vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập trong cả ba lĩnh vực: lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: trước thời điểm luận án được thực hiện, các công trình khoa học trong nước chủ yếu tiếp cận Quốc hội dưới góc độ cơ cấu tổ chức bộ máy, địa vị pháp lý chung hoặc chức năng giám sát, lập pháp ở tầm thiết chế. Sau khi Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 được ban hành, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về hoạt động của ĐBQH với tư cách là chủ thể trung tâm của Quốc hội.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ các vấn đề lý luận, pháp lý, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn hoạt động của ĐBQH Việt Nam; xác định khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, yêu cầu và điều kiện bảo đảm; đánh giá những hạn chế, vướng mắc, từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp khoa học, khả thi nhằm bảo đảm hoạt động của ĐBQH trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu:

  1. Thống kê, phân tích tình hình nghiên cứu về hoạt động của ĐBQH của các tác giả trong và ngoài nước nhằm chỉ ra các vấn đề đã được thống nhất và các nội dung cần tiếp tục làm sáng tỏ.
  2. Xây dựng hệ thống kiến thức lý luận về ĐBQH và hoạt động của ĐBQH Việt Nam (khái niệm, đặc điểm, vai trò, yêu cầu, nội dung, điều kiện bảo đảm và bài học kinh nghiệm quốc tế).
  3. Đánh giá khách quan, khoa học thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn hoạt động của ĐBQH (ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân) qua các khóa gần đây, đặc biệt là khóa XIII và khóa XIV.
  4. Đề xuất quan điểm và hệ thống giải pháp bảo đảm hoạt động của ĐBQH Việt Nam hiện nay.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án giải quyết 5 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  • Câu hỏi 1: ĐBQH được hiểu như thế nào và vị trí, vai trò, đặc điểm hoạt động của ĐBQH?
  • Câu hỏi 2: Hoạt động của ĐBQH trong các lĩnh vực lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước có phải là hoạt động mang tính quy luật, phổ biến của ĐBQH các nước không?
  • Câu hỏi 3: Nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động của ĐBQH một số nước rút ra được những giá trị gì có ý nghĩa tham khảo cho Việt Nam?
  • Câu hỏi 4: Thực trạng quy định pháp luật và hoạt động của ĐBQH có những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân gì?
  • Câu hỏi 5: Quan điểm khoa học cho việc bảo đảm hoạt động của ĐBQH trong giai đoạn hiện nay là gì? Cần có những giải pháp bảo đảm gì để ĐBQH hoạt động hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam?

Giả thuyết nghiên cứu

Luận án xây dựng 5 giả thuyết nghiên cứu làm cơ sở triển khai:

  • Giả thuyết 1: Xuất phát từ vị trí là người đại diện cho cử tri và Nhân dân, ĐBQH có vị trí, vai trò cấu thành nên Quốc hội và lan tỏa quyền lực của Nhân dân đến các cơ quan nhà nước; ĐBQH là hạt nhân trong hoạt động của Quốc hội, do đó hoạt động của đại biểu phải được đặt trong tổng thể các mối quan hệ với cử tri, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và các cơ quan nhà nước khác.
  • Giả thuyết 2: Hoạt động của ĐBQH được thực hiện chủ yếu thông qua ba lĩnh vực cơ bản của Quốc hội là lập hiến, lập pháp; giám sát; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; bên cạnh đó là các hoạt động tiếp xúc cử tri, tuyên truyền phổ biến pháp luật.
  • Giả thuyết 3: Nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động của ĐBQH một số nước trên thế giới có thể rút ra những giá trị tham khảo hữu ích nhưng khi vận dụng vào Việt Nam cần chú ý đến đặc thù chính trị - pháp lý và phải được tổng kết thực tiễn chặt chẽ.
  • Giả thuyết 4: Hệ thống pháp luật hiện hành đã tạo cơ sở pháp lý ban đầu nhưng vẫn còn bộc lộ điểm bất hợp lý, thiếu đồng bộ; năng lực, bản lĩnh của một bộ phận đại biểu còn hạn chế; chế độ hoạt động kiêm nhiệm chiếm đa số và mối quan hệ với cử tri chưa thực sự chặt chẽ, thiếu vắng cơ chế để cử tri giám sát đại biểu.
  • Giả thuyết 5: Hoàn thiện pháp luật về ĐBQH phải dựa trên việc thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng cầm quyền trong điều kiện quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát; đồng thời phải triển khai đồng bộ các giải pháp về nâng cao năng lực, kỹ năng và bảo đảm các điều kiện vật chất, thông tin, nhân lực hỗ trợ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: ĐBQH Việt Nam, bao gồm quan điểm khoa học, các quy định pháp luật điều chỉnh và thực trạng hoạt động của ĐBQH (tập trung vào Quốc hội khóa XIII và khóa XIV); Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội trong mối liên hệ với hoạt động của ĐBQH.
  • Phạm vi không gian: Hoạt động của ĐBQH tại Việt Nam và nghiên cứu so sánh có chọn lọc hoạt động của ĐBQH/nghị sĩ ở một số quốc gia trên thế giới.
  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm là giai đoạn từ năm 2013 đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2019), lấy mốc từ sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành và có hiệu lực.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong nước

Tác giả luận án đã phân loại và điểm luận chi tiết các nhóm công trình trong nước theo từng thể loại:

Sách chuyên khảo, tham khảo:

  • Công trình "Quốc hội Việt Nam – những vấn đề lý luận và thực tiễn" [11] tập hợp các bài viết phân tích lý luận chung và lịch sử Quốc hội, vị trí, vai trò của ĐBQH.
  • Cuốn "Một số vấn đề đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội" [102] dành Chương III và Chương V nghiên cứu cơ sở pháp lý, vai trò của ĐBQH, Đoàn ĐBQH, thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của ĐBQH chuyên trách, cùng kỹ năng lập pháp cá nhân của đại biểu.
  • Các sách chuyên khảo lịch sử và thể chế: "Quốc hội Việt Nam - sáu mươi năm hình thành và phát triển" [44]; "Quốc hội và những thiết chế trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [25]; "Quốc hội Việt Nam trong Nhà nước pháp quyền" [4]; "Quốc hội Việt Nam – Tổ chức, hoạt động và đổi mới" [39].
  • Nhóm sách về hoạt động giám sát: "Hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam trong cơ chế giám sát quyền lực nhà nước" [16] và "Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam vấn đề và giải pháp" [7] phân tích hoạt động chất vấn, kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm của ĐBQH.
  • Nhóm sách về điều kiện bảo đảm: "Cơ chế hỗ trợ đại biểu Quốc hội" [86] (nghiên cứu cơ chế hỗ trợ thực hiện quyền trình sáng kiến pháp luật) và "Điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội" [69] (phân tích các nhóm điều kiện luật định và điều kiện vật chất cho đại biểu).

Đề tài nghiên cứu khoa học:

  • Đề tài nhánh cấp nhà nước "Cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội trong thời kỳ đổi mới đất nước" [76] (2002–2004) do Văn phòng Quốc hội thực hiện.
  • Đề tài cấp nhà nước do GS. Trần Ngọc Đường chủ nhiệm: "Xây dựng mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước ta" [10] (2004).
  • Các đề tài cấp bộ do TS. Trần Thị Quốc Khánh chủ nhiệm (2013) về đổi mới Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội; đề tài mã số [71] về hoạt động báo cáo, giải trình; cùng các đề tài chuyên sâu về ĐBQH: đề tài [36] về ĐBQH chuyên trách; đề tài [37] về địa vị pháp lý và các mối quan hệ của ĐBQH; đề tài [38] về bầu cử ĐBQH; và đề tài [103] về hoàn thiện quy định chất vấn, trả lời chất vấn của ĐBQH.

Luận án, luận văn:

  • Luận án của các tác giả nghiên cứu về Quốc hội: đề tài [101] về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động; đề tài [48] về chất lượng hoạt động lập pháp; đề tài [15] và [41] về cơ chế giám sát; đề tài [49] về chế độ bầu cử; đề tài [47] về quy trình lập hiến; đề tài [18] và [19] về bảo đảm tính đại diện của Quốc hội; đề tài [77] về hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban; đề tài [17] về ban hành và giám sát nghị quyết.
  • Luận văn thạc sĩ của tác giả [26] về năng lực đại diện của ĐBQH khóa X, XI và luận án tiến sĩ của tác giả [61] về "Hoàn thiện pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay".

Bài báo khoa học tiêu biểu: Các bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp và các tạp chí chuyên ngành của nhiều chuyên gia: bài [33] về các yếu tố tác động đến hiệu quả của đại biểu; bài [5] về đại biểu chuyên trách hay chuyên nghiệp; bài [13] về vai trò đại diện trong lập pháp; bài [24] về năng lực thực hiện nhiệm vụ; bài [68] và [63] về công tác xây dựng pháp luật và quy trình lập pháp; bài [30] về quyền quyết định và năng lực quyết định; bài [42] và [43] về sáng quyền lập pháp; bài [62] về kỹ năng thảo luận dự án luật; bài [70] về bảo đảm điều kiện hoạt động của ĐBQH.

Các công trình nghiên cứu ngoài nước

  • Tác phẩm kinh điển "The Concept of Representation" [111] của Hanna Pitkin (1967) phân tích 4 chiều cạnh của đại diện chính trị: đại diện hình thức, đại diện biểu tượng, đại diện đồng dạng và đại diện nội dung.
  • Công trình "Parliaments and Citizens in Western Europe" [116] phân tích cơ chế đại diện và mối quan hệ giữa nghị viện với công dân tại Tây Âu.
  • Sách "Quốc hội và các thành viên" [66] mô tả tổ chức, hoạt động của Quốc hội Hoa Kỳ và vai trò của các nghị sĩ.
  • Công trình "Representation: Key Concepts" [115] làm rõ lý thuyết quan hệ đại diện cá nhân, tập thể và quốc gia.
  • Bài viết "Power and Representation at the Vietnamese National Assembly: The Scope and Limits of Political Doi Moi" [114] đánh giá thực trạng thực hiện quyền lực và tính đại diện của Quốc hội Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả chỉ rõ: phần lớn các nghiên cứu đã công bố tiếp cận ĐBQH thông qua góc độ địa vị pháp lý tĩnh, cơ cấu tổ chức chung của Quốc hội hoặc dừng lại ở từng mảng hoạt động riêng lẻ (như chất vấn, sáng kiến pháp luật). Sau khi bản Hiến pháp năm 2013 và hệ thống luật về tổ chức bộ máy có hiệu lực, chưa có công trình nào đánh giá toàn diện, động thái về thực tiễn hoạt động của ĐBQH trong cả ba chức năng cơ bản và mối liên hệ với cử tri. Do đó, luận án tập trung giải quyết khoảng trống này nhằm cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế, pháp luật và bảo đảm các điều kiện thực thi nhiệm vụ của ĐBQH.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về tổ chức quyền lực nhà nước (quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp).

Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các lý thuyết khoa học chính trị và pháp lý làm hệ quy chiếu:

  • Lý thuyết về chủ quyền nhân dân: Đại diện tiêu biểu là Jean Jacques Rousseau (1712–1778) qua tác phẩm "Bàn về khế ước xã hội" (bản dịch của Hoàng Thanh Đạm, Nxb. Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2006), khẳng định quyền lực nhà nước bắt nguồn từ sự ủy quyền của Nhân dân.
  • Lý thuyết về dân chủ đại diện: Tham chiếu quan điểm của Emmanuel Sieyès (thông qua luận án tiến sĩ của Rebekka Gohring, Đại học Tự do Berlin, 2003) và James Madison (trong công trình "The Federalist with the Letters of 'Brutus'", Cambridge, 2003).
  • Lý thuyết về tính đại diện của Quốc hội: Khung phân tích của Hanna Pitkin (1967, "The Concept of Representation", Los Angeles University Press) để đánh giá mức độ phản ánh ý chí, nguyện vọng của cử tri trong hành vi nghị trường của ĐBQH.

Các hướng tiếp cận

  • Tiếp cận dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính: Xem xét hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn và quy trình hoạt động của ĐBQH.
  • Tiếp cận hệ thống: Đặt ĐBQH trong mối liên hệ hữu cơ với cử tri, với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban và các cơ quan tư pháp, hành pháp.
  • Tiếp cận liên ngành: Kết hợp khoa học pháp lý với triết học, luật học so sánh, xã hội học pháp luật và chính trị học.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận án áp dụng kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp thống kê mô tả:

  • Phương pháp phân tích: Thực hiện xuyên suốt để mổ xẻ các văn bản quy phạm pháp luật và tư liệu thực tiễn về hành vi của ĐBQH.
  • Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Xem xét sự phát triển qua các giai đoạn lập hiến (Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013) và từng khóa Quốc hội.
  • Phương pháp tổng hợp và so sánh: Hệ thống hóa lý luận, đối chiếu quy định pháp luật với thực tế thực hiện; đồng thời so sánh mô hình hoạt động của nghị sĩ một số nước (như CHLB Đức, Hoa Kỳ) để rút ra bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp thống kê, thu thập tài liệu: Tập hợp các dữ liệu, báo cáo tổng kết kỳ họp, số liệu đại biểu chuyên trách và số liệu phiên họp giám sát, lập pháp từ Quốc hội khóa X đến khóa XIV.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Chương này dành cho việc rà soát toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến Quốc hội và ĐBQH. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây đã đạt được sự thống nhất về vị trí quan trọng của ĐBQH, sự cần thiết phải tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách và hoàn thiện các điều kiện bảo đảm. Tuy nhiên, vẫn còn những vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo:

  • Tỷ lệ và cơ cấu ĐBQH hoạt động chuyên trách nên gia tăng ở mức độ nào, bố trí tại các cơ quan của Quốc hội hay tại các Đoàn ĐBQH địa phương.
  • Mức độ chuyên nghiệp hóa hoạt động của ĐBQH trong điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam.
  • Đánh giá thực tiễn hoạt động của ĐBQH theo các quy định mới của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VIỆT NAM

Tác giả xây dựng khung khái niệm: Hoạt động của ĐBQH ở nước ta là việc ĐBQH thực hiện các chức năng, hay tiến hành các công việc cụ thể nhằm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định, phù hợp với vị trí, vai trò của ĐBQH, góp phần thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội.

Luận án xác lập 5 đặc điểm cơ bản của hoạt động ĐBQH:

  1. Vừa mang tính đại diện vừa mang tính quyền lực nhà nước: ĐBQH là người đại diện cho cử tri nơi bầu ra mình và cử tri cả nước, đồng thời nhân danh quyền lực nhà nước cao nhất khi biểu quyết các quyết sách quốc gia.
  2. Quyết định kết quả hoạt động của Quốc hội nói chung: Quốc hội làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số; trí tuệ tập thể bắt nguồn từ chất lượng đóng góp của từng cá nhân đại biểu.
  3. Có phạm vi hoạt động rộng, liên quan đến hầu hết các lĩnh vực: Bao quát mọi vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, vượt lên trên giới hạn cục bộ của địa phương nơi ứng cử.
  4. Hoạt động của ĐBQH chuyên trách mang tính chuyên môn cao, là thành tố then chốt: Đội ngũ chuyên trách là lực lượng nòng cốt tại Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban và Đoàn ĐBQH, bù đắp hạn chế về thời gian của đại biểu kiêm nhiệm.
  5. Phương thức hoạt động có đặc thù riêng: Khác biệt hoàn toàn với công chức hành chính, phương thức hoạt động của đại biểu gắn liền với nghị trường, tranh luận, chất vấn và tiếp xúc cử tri trong bối cảnh hệ thống chính trị một đảng duy nhất cầm quyền.

Dưới đây là bảng số liệu thống kê cơ cấu ĐBQH hoạt động chuyên trách được tác giả tổng hợp trong luận án:

Khóa Quốc hội Tổng số ĐBQH Số lượng ĐBQH chuyên trách Số lượng ĐBQH kiêm nhiệm Tỷ lệ ĐBQH chuyên trách
Khóa X 450 110 340 25,00%
Khóa XI 498 118 380 25,00%
Khóa XII 493 145 348 29,41%
Khóa XIII 500 154 346 30,08%
Khóa XIV 494 (487) 180 316 36,00%

Nguồn: Luận án trích dẫn từ các nguồn thống kê [128; 131; 132; 133; 134].

Chương này cũng phân định 4 nội dung hoạt động chính: lập pháp; giám sát; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; và tiếp xúc, giữ mối liên hệ với cử tri. Đồng thời, tác giả nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức nghị viện tại một số quốc gia (CHLB Đức, Hoa Kỳ) để rút ra các giá trị tham khảo về cơ chế hỗ trợ kỹ thuật và văn phòng nghị sĩ.

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chương 3 đi sâu đánh giá thực tiễn vận hành trên cơ sở hệ thống pháp luật thực định. Tác giả khảo sát các số liệu hoạt động thực tế của đại biểu qua các khóa:

  • Trong hoạt động lập pháp: Luận án phân tích số lượng ý kiến phát biểu của ĐBQH tại các phiên họp toàn thể về lập pháp (Bảng 3.1 cho năm 2012 và Bảng 3.2 cho năm 2013). Đa số ý kiến đóng góp sâu sắc vẫn tập trung vào các đại biểu chuyên trách hoặc đại biểu có chuyên môn luật học, kinh tế; nhiều đại biểu kiêm nhiệm ít phát biểu hoặc ý kiến còn mang tính khái quát.
  • Trong hoạt động giám sát: Tác giả dẫn chứng số lượng các phiên họp toàn thể dành cho hoạt động giám sát tại kỳ họp Quốc hội (Bảng 3.3, 3.4, 3.5, 3.6), cùng tỷ lệ phần trăm thời lượng giám sát từ kỳ họp thứ 1 đến kỳ 6 khóa XIII (Biểu đồ 3.1) và từ kỳ họp 3 đến kỳ 6 khóa XIV (Biểu đồ 3.2). Hoạt động chất vấn đã có chuyển biến tích cực từ hình thức truyền thống sang "hỏi nhanh - đáp gọn" và tranh luận trực tiếp.
  • Về các điều kiện bảo đảm: Thực trạng cung cấp thông tin, kinh phí hoạt động, cùng bộ máy giúp việc (Văn phòng Quốc hội, Viện Nghiên cứu lập pháp và Văn phòng Đoàn ĐBQH ở địa phương) còn bộc lộ bất cập; cơ chế chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật riêng cho từng cá nhân ĐBQH chưa được thiết lập.

CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Tác giả đề xuất định hướng tiếp tục hoàn thiện hoạt động của ĐBQH dựa trên các quan điểm: bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng; lấy đại biểu làm trung tâm của Quốc hội; tăng cường tính đại diện và tính chuyên môn; kết hợp hài hòa lợi ích địa phương và lợi ích quốc gia.

Các nhóm giải pháp được luận chứng gồm:

  1. Hoàn thiện khung pháp luật: Sửa đổi các quy định pháp luật nhằm quy định rõ ràng thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân của đại biểu trong quy trình lập pháp, giám sát và quyết định chính sách; hoàn thiện quy chế chất vấn và bỏ phiếu tín nhiệm.
  2. Nâng cao tính chuyên nghiệp và tiêu chuẩn đại biểu: Xây dựng Bộ quy tắc ứng xử của ĐBQH; tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách lên mức cần thiết (hướng tới trên 40%); nâng cao tiêu chuẩn năng lực, kỹ năng phân tích chính sách và bản lĩnh nghị trường.
  3. Cải tiến quy trình, phương thức hoạt động: Hoàn thiện quy chế làm việc tại các phiên họp toàn thể, phiên họp Ủy ban và Đoàn ĐBQH; tạo điều kiện để đại biểu độc lập thể hiện chính kiến khi biểu quyết.
  4. Tăng cường mối liên hệ với cử tri và cơ chế Nhân dân giám sát: Đổi mới hình thức tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, nhóm đối tượng; thiết lập cơ chế công khai hoạt động để cử tri theo dõi, đánh giá và thực hiện quyền bãi nhiệm khi đại biểu không còn xứng đáng.
  5. Bảo đảm các nguồn lực: Tăng cường nguồn lực tài chính, hạ tầng công nghệ thông tin; nâng cao năng lực tham mưu của cơ quan chuyên trách (Văn phòng Quốc hội, Thư viện Quốc hội, Viện Nghiên cứu lập pháp) và xây dựng chế độ trợ lý chuyên môn cho ĐBQH.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò, nội dung và các yêu cầu khoa học đối với hoạt động của ĐBQH trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau Hiến pháp năm 2013.
  • Khẳng định luận điểm: ĐBQH là hạt nhân và là nhân tố quyết định trực tiếp đến chất lượng hoạt động của Quốc hội; làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa tính đại diện cho ý chí cử tri địa phương và tính toàn quốc trong thực thi nhiệm vụ của người đại biểu.
  • Xác lập cơ sở lý luận cho việc chuyển dịch cơ cấu đại biểu từ diện rộng kiêm nhiệm sang chuyên môn hóa, chuyên trách hóa phù hợp với đặc thù chính trị Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng hoạt động của ĐBQH qua các khóa, đặc biệt là giai đoạn chuyển tiếp từ khóa XIII sang khóa XIV; chỉ rõ các điểm nghẽn về cơ cấu thành phần, thời gian dành cho hoạt động Quốc hội và sự phụ thuộc vào cơ quan hành pháp của các đại biểu kiêm nhiệm.
  • Cung cấp luận cứ thực tiễn từ các bảng thống kê về cơ cấu đại biểu chuyên trách và số liệu phân bổ thời lượng phiên họp lập pháp, giám sát để minh chứng cho các đánh giá.

Hệ thống kiến nghị, giải pháp đề xuất

  • Xây dựng và ban hành văn bản chính thức về Bộ quy tắc ứng xử của ĐBQH nhằm chuẩn hóa hành vi, văn hóa tranh luận và trách nhiệm giải trình.
  • Cụ thể hóa quy trình thực hiện quyền kiến nghị về luật, pháp lệnh và quyền trình sáng kiến pháp luật của đại biểu theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
  • Hoàn thiện cơ chế tiếp xúc cử tri, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và thiết lập chế tài đối với việc chậm giải quyết kiến nghị của đại biểu.
  • Đổi mới mô hình bộ máy tham mưu, tiến tới hình thành chế độ trợ lý nghiên cứu độc lập phục vụ đại biểu chuyên trách.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Về phạm vi thời gian: Do luận án tập trung khảo sát chủ yếu từ mốc ban hành Hiến pháp năm 2013 đến năm 2019, các dữ liệu về Quốc hội khóa XIV chỉ mới phản ánh được giai đoạn nửa đầu nhiệm kỳ (từ kỳ họp thứ 3 đến kỳ họp thứ 6), chưa thể bao quát trọn vẹn toàn bộ nhiệm kỳ khóa XIV.
  • Về chiều sâu khảo sát định lượng: Do đối tượng nghiên cứu thuộc lĩnh vực luật học và khoa học pháp lý, luận án chủ yếu sử dụng phương pháp định tính kết hợp thống kê mô tả từ các báo cáo chính thức; chưa triển khai các cuộc điều tra xã hội học diện rộng bằng bảng hỏi khảo sát trực tiếp ý kiến cử tri và cá nhân các ĐBQH.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng đánh giá thực tiễn hoạt động của ĐBQH trong cả nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV và các khóa tiếp theo nhằm đối chiếu hiệu quả của các quy định sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Quốc hội.
  • Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế giải quyết xung đột lợi ích của ĐBQH khi tham gia biểu quyết các chính sách kinh tế - xã hội.
  • Khảo cứu mô hình trợ lý nghị sĩ tại các quốc gia có điều kiện tương đồng để xây dựng đề án thí điểm chế độ thư ký, trợ lý khoa học riêng cho ĐBQH tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị đối với các nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan tham mưu chính sách: Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ban Công tác Đại biểu, Viện Nghiên cứu lập pháp và Văn phòng Quốc hội có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu và hệ thống giải pháp của Chương 4 làm căn cứ thực tiễn phục vụ sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của ĐBQH và Nội quy kỳ họp Quốc hội.
  • Cá nhân ĐBQH và các Đoàn ĐBQH: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương thức hoạt động, kỹ năng thảo luận dự án luật, kỹ năng chất vấn và phương pháp giữ mối liên hệ với cử tri.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Khoa học Chính trị và Quản lý công có thể khai thác khung lý thuyết (Chương 2) và tài liệu tổng quan lịch sử lập hiến (Chương 1) phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa "hoạt động của đại biểu Quốc hội Việt Nam" như thế nào?

Theo Chương 2 của luận án, hoạt động của ĐBQH ở nước ta là việc ĐBQH thực hiện các chức năng, hay tiến hành các công việc cụ thể nhằm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định, phù hợp với vị trí, vai trò của ĐBQH, góp phần thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội với vị trí, vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách qua các khóa X đến XIV biến động ra sao?

Căn cứ theo Bảng 2.1 của luận án:

  • Khóa X: 110 đại biểu chuyên trách trên tổng số 450 đại biểu (đạt tỷ lệ 25%).
  • Khóa XI: 118 đại biểu chuyên trách trên tổng số 498 đại biểu (đạt tỷ lệ 25%).
  • Khóa XII: 145 đại biểu chuyên trách trên tổng số 493 đại biểu (đạt tỷ lệ 29,41%).
  • Khóa XIII: 154 đại biểu chuyên trách trên tổng số 500 đại biểu (đạt tỷ lệ 30,08%).
  • Khóa XIV: 180 đại biểu chuyên trách trên tổng số 494 (487) đại biểu (đạt tỷ lệ 36%). Số liệu cho thấy tỷ lệ đại biểu chuyên trách có xu hướng tăng dần nhưng đại biểu kiêm nhiệm vẫn chiếm phần lớn (trên 60%).

3. Tác giả luận án xác định hoạt động của ĐBQH có những đặc điểm cơ bản nào?

Luận án chỉ ra 5 đặc điểm cơ bản:

  • Hoạt động của ĐBQH vừa mang tính đại diện vừa mang tính quyền lực nhà nước.
  • Hoạt động của ĐBQH quyết định kết quả hoạt động của Quốc hội nói chung.
  • ĐBQH có phạm vi hoạt động rộng, liên quan đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội.
  • Hoạt động của ĐBQH chuyên trách mang tính chuyên môn cao, là thành tố then chốt trong hoạt động chung của Quốc hội.
  • Phương thức hoạt động của ĐBQH có đặc thù riêng, mang tính khác biệt nếu so sánh với cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị.

4. Luận án sử dụng những khung lý thuyết phương Tây nào để phân tích tính đại diện của đại biểu?

Tác giả tham chiếu 3 lý thuyết nền tảng:

  • Lý thuyết về chủ quyền nhân dân của Jean Jacques Rousseau (tác phẩm Bàn về khế ước xã hội).
  • Lý thuyết về dân chủ đại diện với quan điểm của Emmanuel Sieyès và James Madison (trong tập tài liệu The Federalist).
  • Lý thuyết về các chiều kích của khái niệm đại diện chính trị của Hanna Pitkin (1967, tác phẩm The Concept of Representation).

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào để bảo đảm hoạt động của ĐBQH?

Luận án đề xuất hệ thống giải pháp trên 5 nhóm khía cạnh:

  • Hoàn thiện thể chế pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu trong lập pháp, giám sát và quyết định chính sách.
  • Xây dựng Bộ quy tắc ứng xử của ĐBQH và nâng cao tỷ lệ đại biểu chuyên trách.
  • Đổi mới quy trình, thủ tục làm việc tại kỳ họp và hoạt động tại các Đoàn ĐBQH.
  • Nâng cao phẩm chất, năng lực chuyên môn và kỹ năng hoạt động của từng cá nhân đại biểu.
  • Hoàn thiện cơ chế Nhân dân giám sát đại biểu và bảo đảm các điều kiện hỗ trợ về tài chính, thông tin và bộ máy chuyên viên giúp việc.

Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Hoàn là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về hoạt động của ĐBQH Việt Nam kể từ sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành. Tác giả đã kết hợp phân tích các nền tảng lý thuyết về chủ quyền nhân dân, dân chủ đại diện với việc khảo sát dữ liệu thực tiễn của Quốc hội khóa XIII và khóa XIV để làm rõ vai trò trung tâm của người đại biểu. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và hệ thống giải pháp đồng bộ phục vụ yêu cầu đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.