Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài được công bố trong nước và ngoài nước 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài về hoạt động giám sát của Quốc hội và đại biểu Quốc hội Cuốn sách The public and it's problems (Công chúng và các vấn đề liên quan) xuất bản năm 1927 là công trình nghiên cứu lớn đầu tiên của nhà triết học người Mỹ John Dewey về triết học và chính trị. Trong cuốn sách này, tác giả phân tích tính khả thi của việc xây dựng một xã hội dân chủ thực sự trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và sự biến đổi của xã hội trong thế kỷ XX; phân tích mối liên hệ giữa “công chúng” và “nhà nước”, chỉ ra những điểm hạn chế trong thực hiện lợi ích cá nhân và lợi ích công cộng.
Trong Công chúng và các vấn đề liên quan, John Dewey bác bỏ quan niệm phổ biến về kỷ trị chính trị như là một hệ thống thay thế để quản lý xã hội ngày càng phức tạp. Ông khẳng định: dân chủ mới thực sự là phương tiện hữu hiệu và bền vững nhất để quản lý xã hội nhằm đạt được lợi ích công cộng. Tuy nhiên, để dân chủ phát huy hiệu quả đòi hỏi phải có sự tham gia và giám sát thường xuyên của công chúng. Cũng trong Công chúng và các vấn đề liên quan, John Dewey làm rõ các khái niệm như “công chúng”, “nhà nước”, “chính phủ” và “dân chủ chính trị”; cho rằng nhà nước là cơ quan phục vụ công chúng nhưng quyền lực của nhà nước thường bị lạm dụng để phục vụ lợi ích của một nhóm người trong xã hội.
Sở dĩ có tình trạng đó là do thiếu sự giám sát của công chúng đối với nhà nước. Để khắc phục tình trạng đó cần phát huy dân chủ, công chúng cần chủ động tham gia vào quá trình làm chủ của mình. Vì vậy, cần phải có sự kiểm soát quyền lực, và do đó công chúng cần phải giám sát quyền lực của nhà nước [114]. 9 Cuốn sách Democracy and Critics (Dân chủ và các nhà bình luận) xuất bản năm 1981 bởi Nhà xuất bản St.Martin, New York, Robert A.Dahl (1915–2014) cho rằng, chưa có quốc gia hiện đại nào đáp ứng được lý tưởng về dân chủ.
Theo ông, để đạt được lý tưởng dân chủ, cần phải đáp ứng các tiêu chí sau: Sự tham gia hiệu quả: Trước khi một chính sách được thông qua, tất cả thành viên phải có cơ hội bình đẳng và hiệu quả để bày tỏ ý kiến của mình về chính sách đó. Nói cách khác, công dân phải có cơ hội đầy đủ và bình đẳng bày tỏ nguyện vọng của mình, đồng thời được thảo luận về các chương trình nghị sự, các chính sách của nhà nước. Sự bình đẳng trong bầu cử (bỏ phiếu): Khi quyết định thông qua các chính sách, tất cả thành viên phải có quyền bình đẳng và hiệu quả để bỏ phiếu, và các lá phiếu phải có giá trị như nhau. Sự hiểu biết tập thể: tất cả thành viên phải có cơ hội bình đẳng và hiệu quả để tìm hiểu về những chính sách thay thế liên quan, từ đó quyết định lựa chọn chính sách sẽ đem lại lợi ích tốt nhất cho họ.
Kiểm soát chương trình nghị sự: Các thành viên phải có cơ hội độc lập nhằm quyết định lựa chọn và giải quyết các vấn đề sẽ đưa ra trong chương trình nghị sự. Các chính sách của quốc gia phải được sự đóng góp ý kiến của các thành viên và chính sách có thể thay đổi khi các thành viên tán thành. Như vậy, tiến trình dân chủ đáp ứng theo yêu cầu của ba tiêu chuẩn trên sẽ không bao giờ khép lại. Bao gồm sự bình đẳng của người trưởng thành: Tất cả hoặc ít nhất phần lớn cư dân thường trú trưởng thành phải có đầy đủ các quyền công dân đã nêu trong bốn tiêu chí trên [112].
Cuốn sách The Sources of Social Power (Các nguồn sức mạnh của xã hội), xuất bản năm 1986 của tác giả Michael Mann, đã phân biệt bốn nguồn sức mạnh của xã hội và nhà nước, đồng thời chỉ ra mối liên hệ giữa chúng trong quá trình phát triển lịch sử nhân loại, đó là: tư tưởng, kinh tế, quân sự và chính trị. Michael Mann xác định nguồn gốc, cơ chế và kết quả của quyền lực mà nhà nước sở hữu liên quan 10 đến bốn nhóm quyền lực đó trong xã hội. Trong cuốn sách này, Michael Mann đã khái quát quá trình xuất hiện của nhà nước và sự phân tầng xã hội, đưa ra định nghĩa nhà nước, phân tích nội hàm của định nghĩa đó. Tác giả cũng đã phân tích hai phần quan trọng của định nghĩa liên quan đến hai loại quyền lực nhà nước, được gọi là sức mạnh phi thường và cơ sở hạ tầng [117].
Trong cuốn Managing Parliament in the 21st Century: EGPA Yearbook (Quản trị nghị viện trong thế kỷ 21: Niên giám Egpa), các tác giả đã bàn luận về khái niệm giám sát của nghị viện, đồng thời chỉ rõ: giám sát thực thi luật là hệ quả tất yếu của chức năng lập pháp. Chỉ thông qua hoạt động giám sát quá trình thực thi pháp luật, các thành viên nghị viện mới có thể phát hiện được các hạn chế của pháp luật, trên cơ sở đó mới có thể sửa chữa những sai lầm và việc áp dụng pháp luật không đúng đắn của cơ quan hành pháp. Theo đó, giám sát của nghị viện được xem là những hoạt động tất yếu tiếp theo hoạt động lập pháp nhằm xem xét các đạo luật đã được ban hành có được thực thi hiệu quả hay không và trên thực tế các đạo luật đó có giải quyết được các vấn đề như dự định của các nhà soạn thảo hay không. Để đạt được điều này, hoạt động giám sát của quốc hội đòi hỏi phải thực hiện hiệu quả các kỹ thuật và cơ chế quản lý hành chính công [115].
Ricardo Pelizzo - Rick Stapenhurst trong Các công cụ giám sát của nghị viện: Báo cáo điều tra thực chứng đã phân tích các công cụ giám sát của nghị viện ở 82 quốc gia, đánh giá về mối quan hệ giữa công cụ giám sát và những khía cạnh khác nhau trong đời sống chính trị quốc gia. Các tác giả đi sâu phân tích mối quan hệ giữa công cụ giám sát và hình thức chính thể quốc gia, mối quan hệ giữa công cụ giám sát và mức độ dân chủ. Họ cho rằng ở hệ thống chính thể đại nghị, cơ quan lập pháp có nhiều công cụ giám sát để lựa chọn hơn so với các cơ quan lập pháp ở mô hình tổng thống và mô hình bán tổng thống. Các tác giả cũng chỉ ra mối quan hệ tuyến tính giữa mức độ dân chủ và số lượng các công cụ giám sát [120].
Trong Congressional Investigations and Oversight: Case Studies and Analysis (Điều tra và Giám sát của Quốc hội: Nghiên cứu điển hình và phân tích), các tác giả Stanley M. Brand & Lance Cole xem xét các vấn đề pháp lý và chính sách xung quanh 11 các cuộc điều tra của quốc hội thông qua một loạt các nghiên cứu điển hình tập trung vào giai đoạn từ nửa sau thế kỷ XX cho đến nay. Các tác giả khẳng định tầm quan trọng của các hoạt động điều tra và giám sát hiệu quả của Quốc hội trong hệ thống chính phủ dân chủ Hoa Kỳ, cũng như các cơ sở cho quyền lập hiến, lập pháp của nghị viện. Cũng trong Case Studies and Analysis (Điều tra và Giám sát của Quốc hội: Nghiên cứu điển hình và Phân tích) các tác giả phân tích cơ cấu và các chức năng của chính phủ, trong đó nhấn mạnh đến vấn đề kiểm soát quyền lực của chính phủ [121].
Sách Changes in Congressional Oversight (Những sự thay đổi trong lĩnh vực giám sát Quốc hội Mỹ) của tác giả Joel D. Cuốn sách tập trung nghiên cứu chức năng giám sát của Quốc hội Mỹ đối với đối với hoạt động của các bộ, cơ quan và ủy ban, và các chương trình, chính sách do họ quản lý. Tác giả cũng cho rằng hành vi của các nhà lập pháp sẽ tạo ra tác động đối với hành vi của cơ quan hành chính quan liêu; giám sát hành chính là cần thiết bởi nó tạo ra cơ chế mà những nhà quản lý hành chính có thể ảnh hưởng đến chúng ta theo những cách cơ bản. Cũng trong Changes in Congressional Oversight tác giả chú trọng phân tích các nhân tố thúc đẩy và tăng cường chất lượng giám sát, các xu hướng cách thức giám sát ủy ban của Quốc hội: sự kiểm soát của đảng phái với vị trí Tổng thống và Quốc hội; nhóm chịu sự tác động; nhóm lợi ích; tổ chức cơ quan của Quốc hội; tăng cường chất lượng và số lượng nghị sĩ; sự công khai trong hoạt động [110].
Trong cuốn Political Negotiation (Đàm phán chính trị), các tác giả Jane Mansbridge-Cathie Jo Martin chia sẻ bài học từ những câu chuyện thành công và đưa ra lời khuyên thiết thực để khắc phục sự phân cực đảng phái gay gắt và tạo sự đồng thuận giữa các đại diện lập pháp về các vấn đề chính sách thông qua các hoạt động đàm phán. Cũng trong cuốn sách này, các tác giả cho rằng: ba cơ quan nhà nước không nên hoạt động quá tách biệt mà phải chịu sự giám sát lẫn nhau ở mức độ cần thiết theo cơ chế kiềm chế và đối trọng. Việc kiểm soát lẫn nhau giữa ba cơ quan nhà nước sẽ tạo ra sự cân bằng quyền lực, hạn chế tình trạng các cơ quan đó tuỳ tiện sử dụng quyền lực trong quá trình thực thi các hoạt động chức năng của mình, tránh tình trạng chuyên quyền, độc đoán. Chức năng giám sát của nghị viện chính là công cụ để 12 cơ quan lập pháp thực hiện quyền kiểm soát đối với các hệ thống cơ quan khác trong bộ máy nhà nước [118].
Tác giả Walter Oleszek trong bài viết “Congressional Oversight: An overview” (Giám sát quốc hội: Tổng quan) khẳng định: mục tiêu cơ bản của giám sát quốc hội là để các quan chức hành pháp có trách nhiệm trong thực thi quyền hạn được giao. Trong thời kỳ hiện đại, mục tiêu này càng trở nên đặc biệt quan trọng do sự mở rộng của ảnh hưởng hành pháp. Walter Oleszek cũng đã phân tích khái niệm giám sát và mục đích của HĐGS.