Chương 1: Cơ sở lý thuyết về công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Chương 2: Phân tích thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Nam Định. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Nam Định. 4 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ 1.
Những vấn đề cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế: 1.1 Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế. Theo từ điển Tiếng Việt: “thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” [3;882], thanh tra là “loại hình đặc biệt của kiểm tra” [3;19]. Theo Luật thanh tra số 56/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010(http://www.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1 &mode=detail&document_id=98567). Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó. Theo Giáo trình Quản lý thuế thì thanh tra thuế là “hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi trái pháp luật”.
[1; 437] Tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu thanh tra thuế là thanh tra chuyên ngành, Thanh tra thuế là hoạt động thanh tra của cơ quan thuế các cấp đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, 5 phòng ngừa, phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật về thuế chống thất thu cho Ngân sách Nhà nước. Về khái niệm kiểm tra, theo từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn, kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [4;523]. Theo từ điển Luật học, kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn nói chung hay một công tác cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét…” [5; 265]. Kiểm tra, theo giáo sư Michel Bouvier, là “hoạt động nhằm xem xét tính trung thực, tính chính xác của cơ sở tính thuế mà người nộp thuế đã kê khai” [2;153].
Theo Giáo trình Quản lý thuế, “Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá” [1;411]. Tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu: Kiểm tra thuế là hoạt động xem xét, đánh giá của cơ quan thuế các cấp đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế, phí và lệ phí (gọi chung là thuế). Thanh tra thuế và kiểm tra thuế có những điểm giống nhau sau: - Về mục đích: Thanh tra, kiểm tra thuế đều là nội dung quan trọng của quản lý thuế. Đều có cùng mục đích phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những vi phạm pháp luật thuế, góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ theo quy định của pháp luật thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người nộp thuế.
- Về chủ thể: Chủ thể thanh tra thuế, kiểm tra thuế là cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, thường là cơ quan thuế. - Về đối tượng: Đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. - Về nội dung: Thanh tra, kiểm tra thuế là kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế. - Về phương pháp: Thanh tra, kiểm tra thuế đều phải xem xét hoạt động thực tế của đối tượng để phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng đối tượng một cách chính 6 xác, khách quan, làm rõ đúng, sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, xử lý vi phạm.
Ngoài ra, hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế không chỉ được thực hiện ở một giai đoạn trong hoạt động quản lý thuế mà nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quản lý thuế. Tuy nhiên, giữa thanh tra và kiểm tra thuế cũng có sự khác nhau nhất định: - Thứ nhất, chủ thể của thanh tra thuế không đồng nhất với đối tượng thanh tra thuế nhưng chủ thể kiểm tra thuế có thể không đồng nhất hoặc đồng nhất với đối tượng kiểm tra, chẳng hạn tự kiểm tra nội bộ thì chủ thể và đối tượng kiểm tra đồng nhất. - Thứ hai, tính chất của thanh tra thuế là một hoạt động dựa vào quyền lực của cơ quan quản lý Nhà nước. Kiểm tra thuế là hoạt động trung tính, có thể là hoạt động quyền lực của cơ quan quản lý Nhà nước có thể chỉ là hoạt động quản lý đơn thuần.
-Thứ ba, nội dung hoạt động thanh tra thuế thường là kiểm tra ở giai đoạn sau, khi các nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh. Nội dung thanh tra thuế thường là những vấn đề phức tạp, bản chất vấn đề thường được che giấu có chủ ý nên khó nhận biết. Nội dung kiểm tra thuế thường là những vấn đề hiện tại, dễ nhận biết. Tất nhiên, nội dung kiểm tra thuế bao gồm cả những nội dung cụ thể của kiểm tra trước, kiểm tra trong và kiểm tra sau khi các hoạt động kinh tế phát sinh.
- Thứ tư, do mức độ nghiêm trọng của sự việc cần thanh tra, nên thời gian để tiến hành một cuộc thanh tra thuế thường dài hơn một cuộc kiểm tra thuế. Từ những phân tích trên, có thể rút ra nhận xét sau: Thanh tra thuế và kiểm tra thuế mặc dù có những điểm khác nhau nhưng đều là hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý thuế. Việc phân biệt thanh tra thuế và kiểm tra thuế không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn trong việc tổ chức, chỉ đạo, điều hành để tránh chồng chéo giữa thanh tra và kiểm tra, giảm phiền hà cho các tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế.2 Đặc điểm của thanh tra, kiểm tra thuế: Thứ nhất, đối tượng và nội dung thanh tra, kiểm tra thuế rộng, bao gồm mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật thuế, được tiến hành 7 ở tất cả các giai đoạn: đăng ký, kê khai, nộp thuế và trên mọi sắc thuế của người nộp thuế. Thứ hai, thanh tra, kiểm tra thuế là công tác khó khăn, phức tạp vì đụng chạm trực tiếp đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế.
Để bảo vệ lợi ích vật chất của mình, che giấu các hành vi trốn thuế, người nộp thuế thường tìm mọi biện pháp cản trở, gây khó khăn cho công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế. Thứ ba, công tác thanh tra, kiểm tra thuế đòi hỏi cao về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của cán bộ thuế. Người cán bộ thuế ngoài việc phải nắm chắc các luật thuế, còn phải am hiểu chế độ kế toán, các chuẩn mực kế toán, pháp luật thuế, kỹ năng tin học, kỹ năng đánh giá rủi ro và phải nắm bắt được bản chất các hoạt động kinh tế của đối tượng thanh tra, kiểm tra mới có thể xác định đúng nghĩa vụ thuế của đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế. Đồng thời, người cán bộ thuế phải có bản lĩnh vững vàng, ý thức trách nhiệm cao vì thường xuyên phải làm việc trong môi trường có sự cám dỗ về vật chất.
Do đó, cơ quan thuế ngoài việc tăng cường lực lượng thanh tra viên còn phải có kế hoạch xây dựng các chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng đòi hỏi của hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế trong điều kiện thực hiện đổi mới quản lý thuế. Thứ tư, hoạt động thanh tra, kiểm tra được thực hiện theo một quy trình cụ thể. Quy trình hóa hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế được hiểu là việc xây dựng và chuẩn hóa trình tự thực hiện các bước công việc trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế và trách nhiệm thực hiện các bước công việc đó của từng bộ phận, từng cán bộ tham gia quy trình. Quy trình hóa hoạt động thanh tra, kiểm tra là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu của cơ quan thuế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra, đáp ứng những yêu cầu trong điều kiện thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp nói riêng và thực hiện đổi mới quản lý thuế nói chung.3 Mục tiêu của thanh tra, kiểm tra thuế: Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế nhằm giúp người nộp thuế và cơ quan thuế thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật về công tác quản lý thu ngân sách đảm 8 bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của ngành thuế.
Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm đánh giá việc chấp hành các luật thuế của người nộp thuế nhằm phát huy nhân tố tích cực, đấu tranh ngăn ngừa và xử lý những mặt tiêu cực. Căn cứ vào những kiến nghị của kết quả thanh tra, kiểm tra, cơ quan thuế các cấp có thể đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện, đưa Luật thuế vào cuộc sống thực tế, đảm bảo công bằng trong việc thực hiện luật thuế, đồng thời cải cách được các quy trình quản lý thu thuế ngày càng hiệu quả, hợp lý hơn. Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm hướng dẫn, giúp đỡ người nộp thuế nắm được nghĩa vụ và quyền hạn của đơn vị khi thực hiện luật thuế.