Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng. Chương 2: Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trong luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm áp dụng các quy định của pháp luật hình sự đối với tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng. 7 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ RỪNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ 1.
Khái niệm và đặc điểm pháp lý của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trong luật hình sự 1. Khái niệm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng 1. Khái niệm vi phạm pháp luật Theo Từ điể n luâ ̣t ho ̣c (2006), vi pha ̣m pháp lu ật là “hành vi trái pháp luật, có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí xâm hại tới quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ” [56, tr. Các dấu hiệu cơ bản của vi phạm pháp luật: - Là hành vi của con người gồ m hành vi hành đô ̣ng và hành vi không hành động; - Là hành vi trái quy định của pháp luật.
Tính pháp luật của hành vi thể hiê ̣n ở chỗ làm không đúng điề u pháp luâ ̣t cho phé,pkhông làm hoă ̣c làm không đầ y đủ điề u pháp luât ̣ bắ t buô ̣c phải làm hoă ̣clàm điều mà pháp luật cấm; - Là hành vi có chứa đựng lỗi của c hủ thể - trạng thái tâm l ý thể hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi của mình ở thời điểm chủ thể thực hiê ̣n hành vi trái pháp luâ ̣t; - Là hành vi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện (nế u chủ thể hành vi trái pháp luật là cá nhân thì người đó phải đến độ tuổi chịu trách nhiệm pháp lí theo luật định, không mắ c cá c bê ̣nh tâm thầ n , có khả năng nhâ ̣n thức đươ ̣c hâ ̣u quả nguy hiể m cho xã hô ̣i của hành vi của miǹ h và hâ ̣u quả pháp lí của nó). Tùy thuộc vào tính chất của vi phạm pháp luật , vào hậu quả có hại và mức đô ̣ nguy hiể m cho xã hô ̣i của hành vi cũng như tiń h chấ t của chế tài có 8 z thể đươ ̣c áp du ̣ng đố i với hành vi mà các vi pha ̣m pháp luâ ̣t đươ ̣c chia thành hai loa ̣i , là tội phạm và vi phạm , trong đó vi pha ̣m có thể là vi pha ̣m hành chính, vi pha ̣m dân sự, vi pha ̣m kỷ luâ ̣t nhà nước. Khái niệm tội phạm Theo Từ điể n luâ ̣t ho ̣c (2006), tô ̣i pha ̣m là “hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, được quy đi ̣nh trong Bộ luật hình sự 1999 và phải chịu hình phạt” [56, tr. Như vâ ̣y , tội phạm, trước hết phải là hành vi của con người.
Đây là nguyên tắc cơ bản của luật hình sự - Nguyên tắc hành vi. Theo đó, luật hình sự Việt Nam không truy cứu trách nhiệm hình sự con người về tư tưởng của họ mà chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi của con người khi hành vi đó thoả mãn các dấu hiệu được quy định trong luật. Dấu hiệu “nguy hiểm cho xã hội” có nghĩa hành vi phải gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và người thực hiện hành vi gây thiệt hại đó phải có lỗi. Như vậy, tính nguy hiểm cho xã hội bao hàm tính gây thiệt hại về khách quan và tính có lỗi thuộc về chủ quan của tội phạm.
Tuy nhiên, tính có lỗi được tách ra thành một dấu hiệu riêng của tội phạm nhằm nhấn mạnh nguyên tắc có lỗi trong luâ ̣t hình s ự. Hành vi gây thiệt hại bị coi là có lỗi nếu chủ thể đã lựa chọn, quyết định thực hiện hành vi đó khi có đủ điều kiện lựa chọn và quyết định xử sự khác không có hại cho xã hội. Luật hình sự đòi hỏi tội phạm phải có dấu hiệu này là nhằm đảm bảo mục đích giáo dục của trách nhiệm hình sự. Mục đích này chỉ có thể có khả năng đạt được khi áp dụng trách nhiệm hình sự cho người có lỗi.
Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau như tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm hại, tính chất và mức độ hậu quả, tính chất và mức độ lỗi, tính chất của động cơ, mục đích, tính chất của thủ đoạn, phương tiện cũng như hoàn cảnh thực hiện hành vi, các đặc điểm về nhân thân của chủ thể. Để đánh giá hành vi có tính nguy 9 z hiểm đáng kể của tội phạm hay không và nguy hiểm đến mức độ nào cầ n xem xét đánh giá tất cả các yếu tố này đặt trong mối liên hệ tổng hợp với nhau. Dấu hiệu “được quy định trong luật hình sự” đòi hỏi hành vi bị coi là tội phạm phải được quy định trong luật hình sự hay nói cách khác, chỉ hành vi được quy định trong luật hình sự mới có thể là tội phạm. Điều này cũng có nghĩa là cấm áp dụng nguyên tắc tương tự.
Trong sự so sánh với hai dấu hiệu trên, dấu hiệu “được quy định trong luật hình sự” là dấu hiệu mang tính hình thức pháp lí, được quy định bởi d ấu hiệu nội dung là tính nguy hiểm cho xã hội và tính có lỗi. Khi đã thỏa mãn dấu hiệu nguy hiểm cho xã hội, dấu hiệu có lỗi và dấu hiệu được quy đinh ̣ trong luật hình sự thì hành vi bị coi là tội phạm và có dấu hiệu thứ tư - bị đe dọa phải chịu biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt. Bên ca ̣nh đó , theo Lê Cảm (2003), tội phạm phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu bao gồm ba bình diện với năm đặc điểm (dấu hiệu) của nó là: trên bình diện khách quan, “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội”; trên bình diện pháp lý, “tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự”; trên bình diện chủ quan, “tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi” [8]. Về phân loa ̣i tô ̣i pha ̣m, theo nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự và để có cơ sở cá thể hóa hình phạt trong áp dụng, có thể phân loại tội phạm thành bốn nhóm: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Sự phân loại thành bốn nhóm tội phạm một mặt, biểu hiện cơ bản của việc phân hóa trách nhiệm hình sự, mặt khác là cơ sở thống nhất cho sự phân hóa trách nhiệm hình sự qua các quy định khác. Đây cách phân loại dựa trên mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và nhằm mục đích tạo cơ sở thống nhất cho việc phân hoá trách 10 z nhiệm hình sự. Ngoài cách phân loại này, còn có thể phân loại tội phạm theo các tiêu chí khác. Ví dụ: căn cứ vào tính chất của lỗi có thể phân tội phạm thành tội cố ý và tội vô ý; căn cứ vào tính chất của khách thể bị xâm hại có thể phân tội phạm thành các nhóm tội khác nhau như các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội xâm phạm sở hữu, các tội xâm phạm nhân thân.; căn cứ vào đặc điểm cấu trúc của cấu thành tội phạm có thể phân tội phạm thành các tội có cấu thành tội phạm hình thức và các tội có cấu thành tội phạm vật chất;.
Khái niệm khai thác và bảo vệ rừng Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Dưới khiá ca ̣nh kinh tế , rừng là một phần của tài nguyên thiên nhiên, thuộc loại tài nguyên tái tạo được có tầ m quan tro ̣ng đố i với sự phát triể n của con người. Tuy là tài nguyên tái ta ̣o nhưng nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên rừng có thể bị suy thoái không thể tái tạo lại.
Tài nguyên rừng bao gồm tài nguyên thực vật, động vật, côn trùng, nấm, vi sinh vật. chứa đựng trong hê ̣ sinh thái rừng. Về khái niê ̣m khai thác và bảo vệ rừng, hiê ̣n nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đề câ ̣p đế n vấ n đề này. Theo quan điể m của tác giả, “khai thác rừng” là “hoạt động thu lấy những nguồn lợi từ tài nguyên rừng nhằ m phục vụ mục đích sinh tồ n và phát triển kinh tế , xã hội của con người”.
“Bảo vệ rừng ” là “hoạt động áp dụng các quy đi ̣nh pháp luật nhằ m ngăn chặn các hành vi khai thác trái phép tài nguyên rừng đảm bảo sự tồ n tại và phát triển của tài nguyên rừng”. Khái niệm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng là khái niê ̣m 11 z đươ ̣c sử du ̣ng lầ n đầ u tiên ở nước ta trong BLHS 1999 trên cơ sở khái niê ̣m tội phạm được tách từ tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng tại Điều 181 Bộ luật hình sự năm 1985. Do nhu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm nên nhà làm luật cấu tạo lại thành hai tội danh khác nhau , phân loa ̣i t ội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng là mô ̣t tô ̣i danh riêng so với tô ̣i vi phạm các quy định về quản lý rừng. Tổ ng kế t những quan điể m về khái niê ̣m “tô ̣i pha ̣m” và quy đinh ̣ của BLHS 1999, mô ̣t số tác giả đã đề xuấ t các khái niê ̣m về tô ̣i vi pha ̣m các quy đinh ̣ về khai thác và bảo vê ̣ rừng .