Chương 1 Luật cán bộ, công chức năm 2008 có hiệu lực từ 01/01/2010 quy định: - Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. - Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. - Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Quốc hội, 2008). Nội dung nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước chính quyền cấp xã Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã dành một mục lớn nói về nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, trong đó nhấn mạnh một số vấn đề “Thực hiện tốt chức năng của Nhà nước, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường; hoàn thiện bộ máy nhà nước, tạo bước chuyển biến mạnh về cải cách hành chính; đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng bộ máy nhà nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016).
Với tinh thần trên, nội dung nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước chính quyền cấp xã cần chú trọng những lĩnh vực cụ thể theo đúng nhiệm vụ và quyền hạn của chính quyền cấp xã như sau: 2. Quản lý nhà nước về kinh tế - tài chính Theo Thông tư số 118/2000/TT-BTC, ngày 22 tháng 12 năm 2000 của Bộ Tài Chính quy định về quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác ở xã, phường, thị trấn thì hoạt động tài chính ở xã, phường, thị trấn (dưới đây gọi chung là xã) bao gồm ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác phát sinh trên địa bàn xã. Uỷ ban nhân dân xã tổ chức quản lý thống nhất ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác ở xã. Quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác ở xã phải được thực hiện theo nguyên tắc tiết kiệm, dân chủ, công khai.
Ngân sách xã là một bộ phận của ngân sách nhà nước do Uỷ ban nhân dân xã xây dựng, quản lý; Hội đồng nhân dân xã quyết định, giám sát. Thu ngân sách xã bao gồm các khoản thu của ngân sách Nhà nước phân cấp cho xã sử dụng và các khoản huy động đóng góp của nhân dân trên nguyên tắc tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật để xây dựng cơ sở hạ tầng do Hội đồng nhân dân xã quyết định đưa vào ngân sách xã để quản lý. Thu ngân sách xã phân làm 3 loại: các khoản thu 100%, các khoản thu phân chia với ngân sách cấp trên và các khoản thu bổ sung từ ngân sách cấp trên. Chi ngân sách xã bao gồm các khoản chi duy trì hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đảng, đoàn thể cấp xã và các khoản chi về quản lý và phát triển kinh tế xã hộ ithuộc chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã.
Dự toán chi 10 ngân sách xã được bố trí khoản dự phòng bằng 3 5% tổng số chi để đáp ứng các nhu cầu chi phát sinh đột xuất trong năm. Cân đối ngân sách xã phải bảo đảm nguyên tắc chi không vượt quá nguồn thu quy định. Nghiêm cấm việc vay hoặc chiếm dụng vốn dưới mọi hình thức để cân đối ngân sách xã, trừ trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định. Hoạt động tài chính khác ở xã không đưa vào ngân sách xã bao gồm: các quỹ công chuyên dùng của xã; tài chính các hoạt động sự nghiệp của xã; tài chính thôn bản (chủ yếu thu, chi từ các khoản đóng góp của dân trên nguyên tắc tự nguyện do thôn bản tự huy động) và một số hoạt động tài chính khác.
Mọi khoản thu, chi ngân sách xã được thực hiện qua kho bạc nhà nước và được quản lý theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Xã được mở tài khoản tiền gửi tại Kho bạc nhà nước để gửi các khoản tiền không thuộc ngân sách xã, Kho bạc nhà nước không kiểm soát các khoản tiền này. Đối với các xã có khó khăn ở miền núi và vùng sâu, vùng xa chưa có điều kiện quản lý thu, chi trực tiếp qua Kho bạc nhà nước; Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương (dưới đây gọi chung là tỉnh) phải có phương án cụ thể trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định cơ chế quản lý phù hợp và báo cáo Bộ Tài chính. Thu, chi ngân sách xã phải hạch toán kế toán theo mục lục ngân sách nhà nước áp dụng đối với xã và chế độ kế toán ngân sách xã; các khoản thu, chi tài chínhkhác của xã phải hạch toán rành mạch theo từng loại hoạt động.
Uỷ ban nhân dân xã tổ chức quản lý thống nhất các hoạt động tài chính có liênquan đến các loại tài sản công của xã, tài sản của nhà nước và tài sản vắng chủ (nếu xã được giao quản lý) theo chế độ quy định (Bộ Tài chính, 2000). Như vậy, đối với chính quyền cấp xã thì việc tổ chức và quản lý kinh tế trên địa bàn là sử dụng quyền lực nhà nước để đảm bảo và khuyến khích các đơn vị, các tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh dịch vụ của tất cả các thành phần kinh tế phát triển đúng chính sách và pháp luật. Chính quyền xã không can thiệp vào hoạt động kinh doanh, bảo đảm quyền tự chủ của các đơn vị sản xuất kinh doanh miễn là họ không làm trái pháp luật. Quản lý nhà nước về đất đai, địa giới hành chính Luật đất đai 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là đại bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng.
Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao nhiêu công sức, xương máu mới tạo lập,bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay” (Quốc hội, 1993). Vì vậy, đất đai cần phải được quản lý chặt chẽ theo đúng quy hoạch, kế hoạch và phải được sử dụng có hiệu quả, có thể nói chính quyền cấp xã là nơi gần gũi và nắm bắt rõ nhất những biến động về đất đai tại địa phương. Những vấn đề về quản lý đất đai đang là một trong những điểm nóng của công tác quản lý kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay. Do tốc độ đô thị hoá của tỉnh nhanh, những dự án mở rộng đường giao thông, xây dựng các công trình phúc lợi công cộng, phát triển các khu, cụm công nghiệp.
được triển khai đồng loạt ở nhiều nơi; trong khi đó, chế độ chính sách lại luôn thay đổi, nhiều điều lệ quy định trong các văn bản luật và dưới luật chưa đồng bộ nên công tác quản lý đất đai của các cấp chính quyền nói chung và cấp xã nói riêng đang là một lĩnh vực trọng tâm và bức xúc. Luật đất đai năm 2003 đã quy định nội dung quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã gồm những nội dung sau: Quản lý mốc địa giới hành chính trên thực địa tại địa phương. Công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết của địa phương sau khi được UBND cấp có thẩm quyền quyết định hoặc xét duyệt. Tổ chức chỉ đạo, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi sử dụng đất trái với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn. Xác nhận hồ sơ để người đang sử dụng đất làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 12 Tổ chức kiểm kê đất đai của địa phương Phối hợp với các cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý công trình có hành lang bảo vệ an toàn. Kịp thời xử lý các trường hợp lấn chiếm, sử dụng trái phép hành lang bảo vệ an toàn công trình.
Phối hợp với Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hòa giải các tranh chấp đất đai. Chứng thực hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình và cá nhân.