CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Động cơ Theo Jeffrey S.Nevid, giáo sư tâm lý học: “Động cơ là những mong muốn thúc đẩy hành vi và giải thích cho những gì chúng ta làm”. Động cơ xảy ra bên trong con người, xuất phát từ nhu cầu của người lao động nên khó có thể nhận biết và nắm bắt.Piaget: “Động cơ là tất cả các yếu tố thúc đẩy cá thể hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu và định hướng cho hoạt động đó.” Động cơ lao động của con người vô cùng phong phú và thường xuyên thay đổi theo mục đích, hoạt động khác nhau, ở những thời điểm khác nhau. Như vậy, động cơ của con người là những gì thúc đẩy, kích thích, định hướng hành vi của chúng ta.
Hay nói cách khác động cơ là lí do khiến chúng ta hành động hay suy nghĩ để làm một việc gì đó theo nhu cầu cá nhân. Tuy nhiên, để nắm bắt được động cơ của người lao động, các nhà quản lý cần phải quan sát qua những tác phong, biểu hiện làm việc bên ngoài hoặc để chính xác hơn thì phải thực hiện khảo sát, phỏng vấn người lao động. Động lực lao động Thuật ngữ “động lực” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên những quan điểm khác nhau. Theo quan điểm của quản trị nhân lực “Động lực được biểu hiện là sự khao khát và tự nguyện của mỗi người để đạt được mục tiêu hay kết quả nào đó.” Theo Mitchell, “Động lực là một mức độ mà cá nhân người lao động mong muốn đạt tới và lựa chọn để định hướng cho những mục tiêu của mình.” Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc tạo ra năng suất và hiệu quả cao.
Biểu hiện là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê 4 làm việc nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp cũng như bản thân người lao động (PGS. Bùi Anh Tuấn). Theo Vroom (1964), động lực là trạng thái hình thành khi người lao động kỳ vọng rằng họ sẽ nhận được kết quả và phần thương như mong muốn nếu họ thực hiện công việc.” Từ những khái niệm trên, có thể hiểu về động lực như sau: Động lực là yếu tố bên trong của mỗi cá nhân, nó là tất cả những gì thôi thúc, tác động lên con người để thúc đẩy con người hoạt động, đóng góp cho tổ chức, doanh nghiệp một cách tự nguyện. Bất cứ cá nhân người lao động nào cũng cần phải có động lực mới có thể làm việc hiệu quả, nếu không thì sẽ chỉ là những chuỗi người đi làm khó chịu, mệt mỏi, không có tinh thần và năng suất làm việc và có xu hướng rời khỏi tổ chức.
Tạo động lực Theo Bùi Thị Minh Hồng (2008): “Mọi tổ chức chỉ có thể đạt được năng suất lao động và hiệu quả công việc cao khi có những nhân viên làm việc tích cực và sáng tạo. Vì thế, người quản lý cần hiểu rõ mỗi người lao động đang cần cái gì, cái gì đang động viên khuyến khích người lao động, và biện pháp nào thích ứng trong quản lý để đạt hiệu quả cao, để từ đó tìm được những biện pháp tạo kích thích cho người lao động”. Theo Crossman & Abou Zaki (2003), tạo động lực là những hành động khuyến khích như tiền lương, sự thăng tiến, giám sát, môi trường làm việc và mối quan hệ với đồng nghiệp có thể ảnh hưởng đến thái độ, hành vi của người lao động. Theo Moran (2013): “Khi một nhân viên được tạo động lực, họ thể hiện sự nhiệt tình và tâm huyết với công việc, đồng thời quyết tâm cao độ để hoàn thiện công việc của mình.
Tạo động lực là việc xây dựng và thực hiện các biện pháp, giải pháp khuyến khích người lao động nâng cao năng suất làm việc thông qua các chính sách về vật chất và tinh thần (Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Văn Điềm, 2014) Như vậy, tạo động lực lao động chính là sử dụng những biện pháp kích thích người lao động làm việc bằng cách tạo cho họ cơ hội thực hiện được những mục tiêu 5 của mình. Doanh nghiệp cần có sự chủ động trong vấn đề nâng cao công tác tạo động lực cho tổ chức của mình. Trong quá trình quản lý nguồn nhân lực, nhà quản lý cần phải tìm hiểu các động cơ thúc đẩy người lao động làm việc tích cực để có thể tạo ra được động lực cho người lao động. Bên cạnh đó, nhà quản lý cần tạo cho nhân viên sự an tâm, niềm tin vào một doanh nghiệp công bằng để họ nỗ lực hết mình và mang lại thành quả xứng đáng.
Vai trò và ý nghĩa của việc tạo động lực làm việc a. Đối với xã hội Mỗi người đều có những mục đích, mục tiêu nhằm hướng đến đời sống về vật chất và tinh thần tốt hơn. Việc tạo động lực giúp mọi người có thể thực hiện được mục tiêu của mình dễ dàng hơn. Mỗi cá nhân, tổ chức là một thành viên của xã hội.
Vì vậy việc tạo động lực gián tiếp xây dựng xã hội ngày càng phồn vinh hơn dựa trên sự phát triển của nền kinh tế nói chung và doanh nghiệp nói riêng. Đồng thời, các thành viên của xã hội được phát triển toàn diện và có cuộc sống hạnh phúc hơn khi nhu cầu của họ được thỏa mãn. Đối với cá nhân Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, trung thành: Khi doanh nghiệp thực hiện tốt việc tạo động lực làm việc sẽ giảm bớt những căng thẳng không cần thiết, đồng thời nâng cao tính hấp dẫn của chế độ lương, thưởng… Người lao động hăng say làm việc, gắn bó trung thành với tổ chức, sẵn sàng cống hiến hết mình. Giúp nhân viên tự hoàn thiện mình: Khi người lao động được tạo động lực, công việc sẽ tiến hành thuận lợi, họ sẽ thấy công sức mình bỏ ra là có ích và đạt hiệu quả cao.
Vì vậy người lao động sẽ nỗ lực lớn hơn để lao động, học hỏi, đúc kết những kinh nghiệm, nâng cao kiến thức, phát huy khả năng sáng tạo của bản thân. Thúc đẩy nhân viên làm việc: con người luôn có những nhu cầu cần được thỏa mãn về cả mặt vật chất và tinh thần. Động lực làm việc phù hợp sẽ là đòn bẩy thúc 6 đẩy được tính sáng tạo, sự nhiệt tình hăng say làm việc của người lao động, tạo ra năng suất, chất lượng công việc cao hơn. Tăng năng suất lao động: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, để đạt được hiệu quả sản xuất, năng suất lao động cao thì bất kỳ tổ chức, doanh nghiệp nào cũng cần phải có một đội ngũ nhân viên hùng hậu.
Bên cạnh trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp thì vấn đề động lực làm việc là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất, hiệu quả công việc của người lao động. Để người lao động thoải mái, vui vẻ, tích cực và sáng tạo trong công việc, nhà quản lý cần có những biện pháp tạo động lực hiệu quả. Nâng cao động lực làm việc cho người lao động là việc làm cần thiết và có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của mỗi doanh nghiệp c. Đối với tổ chức Tạo động lực góp phần xây dựng văn hóa doanh nghiệp, nâng cao uy tín và vị thế cạnh tranh thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường.
Động lực của nhân viên trong doanh nghiệp được sử dụng hiệu quả sẽ khai thác tối ưu năng lực của người lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp sẽ có nguồn nhân lực quý giá với đội ngũ lao động giỏi, trung thành, tâm huyết và thu hút được nhiều nhân tài về làm việc trong doanh nghiệp. Tạo sự gắn kết giữa người lao động và doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tối ưu hóa được nguồn nhân lực hiệu quả nhất và có thể khai thác khả năng tiềm ẩn của người lao động. Các học thuyết về tạo động lực Để tạo động lực cho nhân viên, các nhà quản lý, nhà khoa học đã nghiên cứu các phương pháp tiếp cận các yếu tố tạo động lực cho nhân viên.
Vì vậy, trong giới hạn và phạm vi nghiên cứu này, tác giả lựa chọn hai học thuyết dưới đây để cơ sở lý luận và tiền đề nghiên cứu. Học thuyết nhu cầu của Maslow Maslow cho rằng con người có nhiều nhu cầu khác nhau cần được thoả mãn, hành vi của con người đều bắt nguồn từ nhu cầu của họ. Hệ thống nhu cầu do Hình 1. Tháp nhu cầu Maslow Abraham Maslow xây dựng nên là một trong những mô hình được sử dụng rộng rãi nhất trong nghiên cứu về động cơ cá nhân.
Ông chia hệ thống nhu cầu thành 5 nhóm khác nhau theo thứ tự từ nhu cầu bậc thấp đến nhu cầu bậc cao. Dưới đây là hệ thống nhu cầu của Maslow (Hình 1.1), mô tả 5 nhóm mà ông xác định là thứ tự mong muốn của con người. Con người chúng ta sẽ tìm kiếm những nhu cầu lớn sau khi nhu cầu nhỏ được đáp ứng. Theo Maslow, hầu hết các nhu cầu của con người sẽ tuân theo trình tự trên, tuy nhiên ông cho rằng điều này có thể khác nhau giữa mỗi người.
Một nhu cầu không cần thiết phải được đáp ứng trước khi một nhu cầu khác phát sinh. Nhu cầu sinh học: là các nhu cầu cần thiết và tối thiểu nhất để đảm bảo cho con người tồn tại. Nhu cầu này bao gồm các nhu cầu cơ bản như: ăn, uống, ngủ, nhà ở,. Trong kim tự tháp, đây là nhu cầu được xếp vào bậc thấp nhất mà con người luôn cố 8 gắng để thỏa mãn trước tiên, bởi vì nó duy trì sự tồn tại tự nhiên của cơ thể, chi phối những mong muốn của con người.
Nhu cầu về an toàn: khi đã thỏa mãn nhu cầu sinh học, con người bắt đầu tìm kiếm sự an toàn và ổn định cho mình. Đây là nhu cầu ổn định, rõ ràng, chắc chắn, được bảo vệ khỏi những điều bất trắc hoặc nhu cầu tự vệ. Nhu cầu an toàn được thể hiện trong cả thể chất và tinh thần. Con người luôn mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống của mình khỏi những nguy hiểm như: chiến tranh, thiên tai,.
Điều này được khẳng định thông qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống: sống trong xã hội có pháp luật, khu phố an ninh,. Bên cạnh đó, con người còn tìm kiếm sự an toàn về tinh thần bởi các niềm tin về tâm linh, tôn giáo, triết học,. Nhu cầu xã hội: là nhu cầu được yêu thương, gắn bó, được chấp nhận, mong muốn được tham gia vào một số tổ chức hay đoàn thể nào đó.