CHƯƠNG I - TỔNG QUAN 1. SƠ LƯỢC VỂ NHIÊN LIỆU RẮN SỬ DỤNG ĐỂ CHẾ TẠO ĐỘNG CƠ CHO VẬT THỂ BAY Nhiên liệu rắn là một hệ bao gồm đồng thời cả chất cháy và chất oxy hóa được phân bố đồng nhất và gắn kết chắc với nhau thành một khối có hình dạng nhất định. Nguồn cung cấp oxy cho phản ứng cháy của nhiên liệu rắn là do chất oxy hóa cung cấp mà không cần phải có oxy không khí. Tuỳ thuộc vào thành phần hóa học của chất cháy và chất oxy hóa, người ta phân loại nhiên liệu rắn thành 2 dạng Nhiên liệu keo và Nhiên liệu hỗn hợp.
Nhiên liệu keo Nhiên liệu keo được sản xuất trên cơ sở dẫn xuất của nitroxenlulo có hàm lượng nitơ trong khoảng 10,8 - 12,1% và thành phần thứ hai là thành phần hóa dẻo khó bay hơi như nitroglycerin, nitroglycol, nitrodiglycol. Ngoài ra trong thành phần của nhiên liệu keo hai gốc còn có các chất an định cho thuốc phóng (diphenylamin, xentralit), chất thuần hoá cho nhiên liệu keo (long não hay dinitrotoluen) hay các chất dập lửa và một vài phụ gia khác.1 dưới đây trình bày các thành phần cơ bản của loại nhiên liệu keo hai gốc.1 -Thành phần cơ bản của nhiên liệu keo 2 gốc [2] Thuốc của Liên Xô Thuốc phóng của VN TT Tên hóa chất (% khối lượng) (% khối lượng) 1 Nitro xenlulo 57,5 ± 1,0 56,0 ± 1,0 2 Nitro glyxerin 26,7 ± 0,7 26,7 ± 0,7 3 Di nitrotoluen 8,5 ± 1 10,5 ± 1,0 4 Xentralit 2,9 ± 0,3 33 ± 0,3 5 Vazơlin - 1,2 ± 0,4 6 Dầu biến thế 0,6 ± 0,3 - 7 Oxyt chì 1,4 ± 0,3 0,9 ± 0,3 8 CaCO3 2,0 ± 0,4 1,7 ± 0,3 9 Kẽm stearat ≤ 0,02 - 10 Chì phtalat - 0,9 ± 0,3 11 Độ ẩm ≤ 0,8 < 0,7 3 z 1. Nhiên liệu rắn hỗn hợp Khác với nhiên liệu keo, nhiên liệu rắn hỗn hợp là một hệ không đồng nhất của chất cháy và chất oxy hóa. Trong nhiên liệu rắn hỗn hợp, các nguyên tử oxy hóa và chất khử không cùng ở trong một phân tử như trong nhiên liệu keo và cấu trúc của nó như một dạng vật liệu composite.
Thành phần của nhiên liệu rắn hỗn hợp thường bao gồm: các chất oxy hóa, các chất cháy và các chất phụ gia. Sơ lược về các thành phần của nhiên liệu rắn hỗn hợp được trình bày trong bảng 1.2 - Thành phần cơ bản của nhiên liệu rắn hỗn hợp TT Các thành phần Tỷ lệ % 1 Chất oxy hóa 70,0 2 Chất cháy 15,7 3 Phụ gia năng lượng 7,0 4 Chất hóa rắn 3,5 5 Chất hóa dẻo 3,8 6 Phụ gia công nghệ 1,0 7 Xúc tác cháy 0,2 1. Các chất oxy hóa Các chất oxy hóa được dùng để chế tạo nhiên liệu rắn hỗn hợp phải là các chất có dư oxy để đảm bảo oxy hóa được các nguyên tố khử trong chất cháy, đồng thời ở nhiệt độ sử dụng (-10oC đến 50oC) chúng phải ở trạng thái rắn. Các chất oxy hóa dùng để chế tạo nhiên liệu rắn hỗn hợp thường là các muối vô cơ giàu oxy như: KNO3, NH4NO3, NH4ClO4… Trong thực tế, số lượng các muối vô cơ giàu oxy đáp ứng đủ các tiêu chuẩn để chế tạo nhiên liệu rắn hỗn hợp không nhiều.
Hiện tại, amôn peclorat là chất được sử dụng phổ biến nhất.2 Các chất cháy Các chất cháy sử dụng để chế tạo nhiên liệu rắn hỗn hợp phải đáp ứng được đồng thời hai vai trò quan trọng: vừa cung cấp nguyên tố cháy cho nhiên liệu vừa phải bảo đảm kết dính các chất oxy hóa và các chất phụ gia khác để tạo thành thỏi 4 z nhiên liệu có độ bền cơ học cần thiết, tính chất hóa lý đồng nhất, ổn định khi sử dụng và bảo quản. Trong quá trình chế tạo nhiên liệu hỗn hợp, chất cháy thường là các hợp chất cao phân tử ở hai dạng sau:[3] + Dạng thứ nhất: Ở nhiệt độ sử dụng, chất cháy cao phân tử ở dạng rắn nhưng khi gia nhiệt chúng sẽ bị chảy dẻo (ví dụ: nhựa đường) và khi đó người ta tiến hành trộn hợp nó với các chất oxy hóa ở nhiệt độ cao. Độ bền cơ học của nhiên liệu loại này phụ thuộc rất lớn vào nhiệt độ. Chính vì lý do này mà trong công nghiệp sản xuất nhiên liệu rắn hỗn hợp người ta rất ít khi sử dụng chất cháy cao phân tử dạng thứ nhất này.
+ Dạng thứ hai: Các hợp chất cao phân tử ở dạng lỏng (các prepolyme). Các chất cao phân tử vừa đóng vai trò là chất kết dính các chất oxy hóa, vừa đóng vai trò là chất cháy được sử dụng trong chế tạo nhiên liệu rắn hỗn hợp thường là tổ hợp của các prepolyme (Các prepolyme chính là các phân tử được tạo thành từ các mắt xích monome (thường là khoảng 10 mắt xích)[9],có các nhóm chức có khả năng tham gia phản ứng ở cuối mạch), các chất đóng rắn và một số phụ gia cần thiết khác như chất hóa dẻo, chất chống lão hóa, chất giảm sức căng bề mặt v. Các chất phụ gia cho nhiên liệu rắn hỗn hợp a/ Phụ gia năng lượng: Các chất phụ gia năng lượng có tác dụng làm tăng xung đơn vị của nhiên liệu cho vật thể bay. Các chất phụ gia năng lượng thường dùng là hexogen, octoten và một số bột kim loại: nhôm, Be, Zr…Trong số các bột kim loại sử dụng làm phụ gia năng lượng cho nhiên liệu rắn hỗn hợp thì bột nhôm được sử dụng phổ biến nhất vì oxit nhôm được tạo thành khi thỏi nhiên liệu cháy có khả năng dập tắt các dao động âm trong động cơ đồng thời sử dụng bột nhôm làm tăng độ bền cơ học cho thỏi nhiên liệu vì khả năng kết dính của bột nhôm với chất cháy tốt hơn giữa chất oxy hóa (amôni peclorat) với chất cháy.
[3] b/ Phụ gia thay đổi tốc độ cháy Mục đích của việc thay đổi tốc độ cháy của thỏi nhiên liệu là làm cho xung đơn vị của nó khi cháy là lớn nhất. Trong số rất nhiều các phương pháp làm thay 5 z đổi tốc độ cháy của thỏi nhiên liệu, chỉ có 2 phương pháp sau được thực hiện:[3] Phương pháp 1: Cho thêm các chất xúc tác làm thay đổi tốc độ cháy. Đây là phương pháp được dùng phổ biến nhất vì nó đơn giản và hiệu quả cao. Các chất xúc tác cháy thường dùng là các oxit kim loại như Fe2O3, MgO… Các xúc tác này có thể làm tăng độ cháy thêm 40-50%.
Ngày nay, người ta còn dùng cả feroxen làm phụ gia thay đổi tốc độ cháy và tốc độ cháy có thể tăng lên được gấp 2 lần. Fe Feroxen Phương pháp 2: Sử dụng các dây dẫn nhiệt sâu vào trong lòng thỏi nhiên liệu. Dây dẫn làm tăng nhiệt độ của các lớp nhiên liệu gần bề mặt cháy do đó làm tăng tốc độ phân hủy nhiệt của các thành phần trong nhiên liệu và làm tăng tốc độ cháy của nhiên liệu. Dây dẫn nhiệt thường dùng là sắt (làm tăng tốc độ cháy lên 1,6 lần) và bạc (tăng tốc độ cháy lên 5,3 lần).
Các phụ gia giúp thay đổi khả năng công nghệ Các chất phụ gia này thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu trong nhiên liệu rắn hỗn hợp, ví dụ làm tăng hoặc giảm tốc độ hóa rắn của chất cháy, tăng thời gian hóa rắn cần thiết của hồ nhiên liệu, hạn chế vón cục và tăng độ phân tán của các hạt rắn, tăng độ kết dính giữa chất cháy với chất oxy hóa, giảm nhiệt độ thủy tinh hóa của chất kết dính. MỘT SỐ VẬT LIỆU DÙNG ĐỂ CHẾ TẠO LỚP CHỐNG CHÁY CHO NHIÊN LIỆU RẮN HỖN HỢP 1. Ý nghĩa của phương pháp chống cháy Như chúng ta đã biết nhiên liệu rắn là một trong những nguồn nhiên liệu chủ yếu cung cấp năng lượng cho động cơ của vật thể bay hoạt động. Động cơ sử dụng nhiên liệu rắn có nhiều ưu điểm như cấu tạo đơn giản, độ tin cậy cao.
Trong động cơ của vật thể bay nhiên liệu rắn, chất cháy và chất oxy hóa được trộn hợp đều, đồng nhất và gắn kết với nhau thành một khối rắn chắc có hình dạng nhất định. Khối nhiên liệu này được bố trí sẵn trong buồng đốt động cơ như hình sau: 6 z .1- Sơ đồ mặt cắt của động cơ Khi động cơ hoạt động, khối nhiên liệu cháy sẽ tạo ra lực đẩy để đưa vật thể bay bay theo quỹ đạo đã được định sẵn. Người ta phân biệt quá trình cháy của khối nhiên liệu rắn thành hai trường hợp là cháy nội phao và cháy xói mòn. Chế độ cháy nội phao xảy ra khi bề mặt cháy của khối nhiên liệu cháy đúng theo yêu cầu của nhà thiết kế nhằm tạo ra áp suất và lực đẩy đưa vật thể bay bay đến đúng mục tiêu theo chương trình đã được định sẵn.
Ngược lại, chế độ cháy xói mòn xảy ra khi bề mặt cháy của khối nhiên liệu cháy không đúng yêu cầu cần thiết kế. Khi đó, áp suất và lực đẩy cho thỏi nhiên liệu cháy tạo ra không đảm bảo đúng như yêu cầu thiết kế, nghĩa là vật thể bay sẽ không hoạt động theo đúng chương trình đề ra [3]. Để đảm bảo cho thỏi nhiên liệu cháy ở chế độ cháy nội phao, ngoài các yếu tố liên quan đến chất lượng như thành phần, mức độ đồng đều, độ bền cơ học và mức độ xuất hiện các vết nứt nhỏ, người ta còn áp dụng phương pháp khống chế bề mặt cháy của thỏi nhiên liệu (còn gọi là phương pháp chống cháy). [1] Chống cháy là tổng hợp các phương pháp đặc biệt sử dụng để ngăn không cho một số khu vực trên bề mặt thỏi nhiên liệu được cháy khi động cơ hoạt động theo yêu cầu của nhà thiết kế.
Có hai phương pháp có khả năng khống chế bề mặt cháy của thỏi nhiên liệu như sau [9,10] ♦ Phương pháp 1: Làm giảm tốc độ cháy của nhiên liệu ở các bề mặt cần chống cháy bằng cách bổ xung một số phụ gia giảm tốc độ cháy vào thành phần của lớp nhiên liệu này hoặc xử lý bề mặt cần chống cháy bằng một loại hóa chất đặc biệt có khả năng làm giảm tốc độ cháy của nhiên liệu. Phương pháp này ít dùng vì dây chuyền công nghệ chế tạo thỏi nhiên liệu phức tạp, chất lượng của thỏi nhiên liệu dễ bị ảnh hưởng và vì vậy phương pháp này chỉ có ý nghĩa lý thuyết. 7 z ♦ Phương pháp 2: Tạo ra trên bề mặt không được phép cháy theo thiết kế của thỏi nhiên liệu một lớp vật liệu không cháy hoặc có tốc độ cháy chậm hơn so với tốc độ cháy của thỏi nhiên liệu.