Chương 1: Tổng quan về hiệu quả logistics và năng lực cạnh tranh quốc gia 1. Lý thuyết về Logistics 1. Khái niệm về Logistics Logistics lần đầu tiên được phát minh và ứng dụng trong lĩnh vực quân sự, không phải lĩnh vực thương mại. Sự ra đời của logistics có từ thời các đế chế Hy Lạp và La Mã cổ đại.
Các sĩ quan quân đội sử dụng thuật ngữ này để chỉ rõ nhiệm vụ được giao của họ là vận chuyển và phân phối vũ khí, đạn dược và các nhu yếu phẩm khác để phục vụ những người lính hành quân từ quốc gia này sang quốc gia khác. Logistics đã được sử dụng rộng rãi ở mỗi quốc gia trong hai cuộc đại chiến thế giới để vận chuyển quân đội và cung cấp hậu cần cho các đơn vị chiến đấu. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các chuyên gia logistics quân sự đã áp dụng những kỹ năng này để phục hồi kinh tế sau chiến tranh. Sự khởi đầu của lịch sử logistics đã dẫn đến sự nâng cao của các hệ thống quản trị logistics trong nền kinh tế ngày nay.
Theo Ủy ban Kinh tế và Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (Economic and social commission for Asia and the pacific – ESCAP), logistics được phát triển theo ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Phân phối vật chất (Physical distribution) Vào những năm 1960 và 1970, logistics là hoạt động cung cấp các sản phẩm vật chất hay còn gọi là logistics đầu ra (outbound logistics). Đây là một chuỗi các hoạt động có liên quan mật thiết với nhau như vận chuyển hàng hóa, phân phối, lưu kho, nhập kho, đóng gói, phân loại và dán nhãn sản phẩm. Outbound Logistics quản lý một cách có hệ thống các hoạt động này để đảm bảo việc cung cấp sản phẩm và hàng hóa đến khách hàng một cách hiệu quả. Giai đoạn 2: Phát triển hệ thống logistics (Logistics System) Vào những năm 1980, một khái niệm mới về logistics đầu vào (inbound logistics) xuất hiện cùng với thuật ngữ hậu cần đầu ra (outbound logistics).
Hệ thống logistics được tạo ra bằng cách kết hợp logistics đầu ra và logistics đầu vào. Logistic đầu vào là chuỗi dịch vụ kiểm soát nguyên liệu thô hoặc bán thành phẩm cho một công ty. Có hai hình thức vận chuyển trong logistics đầu vào: vận chuyển nguyên vật liệu từ nhà cung cấp bên ngoài đến công ty và vận chuyển nguyên vật liệu và các bộ phận sản phẩm giữa các chi nhánh. Outbound Logistics quản lý các hoạt động để đảm bảo rằng sản phẩm cuối cùng được chuyển đi nước ngoài và giao cho khách hàng của công ty.
6 Giai đoạn 3: Giai đoạn quản trị chuỗi cung ứng (Supply chain management). Đây là giai đoạn phát triển logistics từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay. Trong giai đoạn này, quan hệ đối tác được xây dựng giữa các thành viên khác nhau của chuỗi cung ứng, các nhà cung cấp và khách hàng trong các kênh bán hàng (hoặc tiếp thị), cũng như các nhà cung ứng. Chuỗi Logistics của bên thứ ba (3PL).
Sự hợp tác giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng làm giảm mức tồn kho trong toàn bộ chuỗi cung ứng và cải thiện đáng kể hiệu quả phân phối. Logistics là một trong những thuật ngữ khó dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt bởi nghĩa của từ này rất rộng nên khó có thể truyền tải hết ý nghĩa của nó chỉ bằng một từ tiếng Việt. Các thuật ngữ như logistics kinh doanh, quản lý vật tư, kỹ thuật phân phối, quản trị logistics, hậu cần, kho bãi và chuyển giao là tất cả các thuật ngữ được sử dụng để mô tả logistics. Theo Uỷ ban Kinh tế - Xã hội châu Á và Thái Bình Dương nêu khái niệm như sau: “Logistics được định nghĩa là quy trình xử lý thông tin có liên quan và sản xuất thành phẩm, từ điểm đầu tiên đến điểm tiêu thụ cuối cùng, là việc quản lý quá trình xử lý và lưu trữ nguyên vật liệu thô, theo nhu cầu cuối cùng của khách hàng”.
Theo Hội đồng các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals – CSCMP) Hoa Kỳ: “Logistics là một bộ phận của chu trình chuỗi cung ứng, bao gồm các quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả việc dự trữ và lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, thông tin hai chiều giữa điểm khởi đầu và điểm tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng”. Ngoài ra, CSCMP đưa ra khái niệm về quản lý hậu cần như sau: "Quản trị logistics là một phần của quản lý chuỗi cung ứng và là việc tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan từ nơi xuất xứ để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Các hoạt động quản trị logistics cơ bản bao gồm quản trị vận tải hàng hóa xuất và nhập quản lý đội tàu, kho bãi, nguyên vật liệu, thực hiện đơn hàng, thiết kế mạng lưới logistics, quản trị tồn kho, hoạch định cung/cầu, quản trị nhà cung cấp dịch vụ thứ ba. Ở một số mức độ khác nhau, các chức năng của logistics cũng bao gồm việc tìm nguồn đầu vào, hoạch định sản xuất, đóng gói, dịch vụ khách hàng.
Quản trị logistics là chức năng tổng hợp kết hợp và tối ưu hóa tất cả các hoạt động logistics cũng như phối hợp hoạt động logistics với các chức năng khác như marketing, kinh doanh, sản xuất, tài chính, công nghệ thông tin” 7 Năm 2005, Luật Thương mại Việt Nam định nghĩa "dịch vụ logistics" chứ không phải khái niệm về logistics. Theo quy định tại Điều 233 Luật Thương mại Việt Nam: "Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hạng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Nhìn chung, logistics không chỉ là một dịch vụ tách biệt nói chung, nó là một góc nhìn vì nó bao gồm nhiều hoạt động khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau giúp cho quá trình sản xuất, phân phối và phân phối sản phẩm khác nhau có những khái niệm khác nhau về logistics. Logistics là một quá trình bao gồm tất cả các bộ phận cấu thành nên một sản phẩm, từ khi nhận sản phẩm đến khi giao hàng cuối cùng.
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của sự phân công lao động và sản xuất, các hoạt động trong chuỗi logistics ngày càng rộng mở. Do đó, nội dung của khái niệm logistics thay đổi theo thời gian và không gian. Điều này có nghĩa là các khái niệm logistics khác nhau được tạo ra trong các thời gian và không gian khác nhau. Có nhiều cách hiểu khác nhau về Logistics, nhưng những định nghĩa này được phân ra thành 2 nhóm.
Nhóm đầu tiên là khái niệm hẹp, ví dụ như định nghĩa chỉ ra tại luật thương mại Việt Nam. Nhờ vậy, chuỗi hoạt động logistics “là tập hợp các yếu tố có liên quan và hỗ trợ quá trình vận chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng cuối cùng”. Nhóm còn lại là nhóm rộng hơn, bao gồm hậu cần được kết nối với chuỗi cung ứng, từ nhập khẩu nguyên liệu, vật liệu đến các công đoạn sản xuất, chế biến, sản xuất và chế biến, tất cả trong chuỗi cung ứng đều có liên quan đến công đoạn. Kênh phân phối và phân phối để tiếp cận người dùng cuối mô tả bao gồm sự liên quan của các yếu tố hữu hình và vô hình (dữ liệu) từ giai đoạn đầu tiên của sản xuất đến việc tiếp cận người dùng cuối.
Vì vậy, logistics là chuỗi hoạt động từ hoạch định chiến lược, quản trị và thực hiện việc giao hàng, kho bãi, bảo quản nguyên liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, đến việc xử lý các thông tin liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ cuối cùng. Mục đích của hoạt động hậu cần là đáp ứng các yêu cầu của khách hàng một cách kịp thời và hiệu quả về chi phí. Vai trò của logistics a. Đối với hoạt động kinh tế quốc tế Xu hướng tất yếu ngày nay là toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới.
Những diễn biến sôi nổi các lĩnh vực khác nhau của thế giới sẽ gia tăng nhanh chóng cùng với sự phát triển giao thương của các đất nước, địa điểm trên toàn cầu và kết quả là mang đến những yêu cầu bổ sung gồm giao hàng, lưu kho, những hoạt động khác, … Do đó, vai trò của logistics ngày càng trở nên ngày càng quan trọng hơn bao giờ hết. Logistics là công cụ hiệu quả để liên kết những dịch vụ kinh tế nước ngoài, nhằm hướng đến các dịch vụ sản xuất buôn bán thu được lợi nhuận cao. Kết quả vận hành chuỗi cung ứng thế giới làm tối ưu hóa chu trình sản xuất sản phẩm từ khâu tiếp nhận nguyên liệu đến vận chuyển hàng hóa cuối cùng đến tay người có nhu cầu, hạn chế đa số tác động hạn chế trong vấn đề này, thời điểm cùng chi phí hoạt động của những dịch vụ kinh doanh quốc tế. Chuỗi cung ứng này luôn được “kết dính” lại khiến quy trình logistic đạt hiệu quả và đạt năng suất cao.
Dịch vụ vận tải được nâng cao đang khiến thị trường kinh doanh trong và ngoài nước càng ngày càng rộng mở. Hệ thống dịch vụ chuỗi cung ứng đóng vai trò là trung gian để đưa sản phẩm vào những lĩnh vực mới vào đúng thời điểm và địa điểm. Vì vậy, cùng hoạt động gắn kết giữa những dịch vụ chuỗi logistics, sức mạnh của những doanh nghiệp đã đi qua ranh giới hải quan của các quốc gia. Những nhà buôn bán không những có khả năng tăng trưởng thị phần tiêu thụ hàng hóa, mà còn khiến thị trường kinh tế toàn cầu ngày càng rộng mở.
Logistics giúp hạn chế tối đa chi phí, đóng góp và chuẩn hóa các chứng từ trong thương mại quốc tế. Thật vậy, một hoạt động trong thương mại quốc tế đa số phải cần đầy đủ các loại chứng từ phức tạp, tốn thêm phần lớn các chi phí, ảnh hưởng không nhỏ đến thời gian cùng năng suất của các dịch vụ kinh doanh thương mại quốc tế. Chuỗi cung ứng đã cung cấp đa dạng những loại hình dịch vụ bưu kiện, không chỉ khắc phục những điểm yếu này mà còn cải tiến và chuẩn hóa chứng từ cũng như giảm bớt khối lượng công việc văn phòng trong việc luân chuyển hàng hóa, từ đó nâng cao hiệu quả của thương mại quốc tế. Đối với nền kinh tế quốc dân Logistics có vai trò đặc biệt đối với hoạt động xây dựng lợi thế cạnh tranh ở 1 đất nước.