Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu tác động của logistics đối với xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam" được nghiên cứu sinh Lê Minh Trâm thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Thị Ngọc Quyên, thuộc ngành Kinh tế quốc tế (Mã số: 9310106) tại Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội năm 2024.
Về tính cấp thiết, xuất khẩu hàng hóa là nguồn thu ngoại hối quan trọng, hỗ trợ cân đối cán cân thanh toán, tạo việc làm và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam. Đến năm 2022, Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 21 trên thế giới về năng lực và quy mô kim ngạch xuất khẩu (Minh Tiến, 2023). Tuy nhiên, khi các động lực tăng trưởng xuất khẩu truyền thống dần bộc lộ giới hạn, việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và giá trị hàng hóa xuất khẩu đòi hỏi phải tối ưu hóa chuỗi cung ứng và dịch vụ logistics. Năng lực cạnh tranh quốc gia được xây dựng trên 3 trụ cột: cơ sở hạ tầng giao thông vận tải và logistics, cơ sở pháp lý về xuất nhập khẩu, và tổ chức chuỗi giá trị sản xuất (Victoria Kwakwa, 2013). Hệ thống logistics quốc gia gồm 4 thành phần cơ bản: cơ sở hạ tầng logistics, cơ sở pháp lý về logistics, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics (LSP) và các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics (Banomyong, 2008; Trịnh Thị Thu Hương và cộng sự, 2019). Từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007, hệ thống logistics Việt Nam đã có nhiều bước cải thiện nhưng vẫn tồn tại những rào cản cản trở hoạt động xuất khẩu.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định từ thực tế: các công trình quốc tế và trong nước chủ yếu tập trung lượng hóa tác động của logistics thông qua chỉ số hoạt động logistics (LPI) tổng thể hoặc thực hiện trên mẫu dữ liệu chéo nhiều quốc gia, trong khi các nghiên cứu phân tích định tính chuyên sâu về từng yếu tố đầu vào, đầu ra của hệ thống logistics quốc gia và đánh giá kết quả phản ánh trên các khía cạnh cụ thể của xuất khẩu (thời gian, chi phí, năng lực vận chuyển, cơ cấu thị trường, cơ cấu sản phẩm) còn rất hạn chế. Tại Việt Nam, kết quả định lượng giữa các nghiên cứu trước đây vẫn chưa có sự thống nhất (Le Duc Nha, 2018 cho rằng logistics không có ảnh hưởng rõ rệt; trong khi Phạm Hồ Hà Trâm và Đinh Trần Thanh Mỹ, 2021 khẳng định có tác động thuận chiều).
Luận án giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Những yếu tố nào của hệ thống logistics tác động tới xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam?
- Mức độ tác động của logistics đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam theo từng yếu tố được đo lường như thế nào?
- Các kết quả quan trọng phản ánh tác động của logistics đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam thể hiện trên các khía cạnh cụ thể ra sao?
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là phân tích và đánh giá tác động của logistics đối với xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trên cả hai phương diện định tính và định lượng, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách và khuyến nghị phát triển hệ thống logistics nhằm hỗ trợ thúc đẩy xuất khẩu đến năm 2030.
Bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phân tích tổng quan tài liệu, chỉ ra các vấn đề đã được thống nhất và khoảng trống nghiên cứu để xác định hướng tiếp cận.
- Hệ thống hóa, bổ sung và làm rõ cơ sở lý luận về tác động của logistics đối với xuất khẩu hàng hóa; xây dựng khung phân tích định tính và khung phân tích định lượng dựa trên mô hình trọng lực thương mại quốc tế.
- Vận dụng khung phân tích vào thực tiễn Việt Nam giai đoạn 2007–2023 để xác định, lượng hóa và đánh giá mức độ tác động của từng yếu tố logistics tới xuất khẩu, phân tích nguyên nhân và chứng minh các kết quả thực tế.
- Phân tích định hướng, mục tiêu phát triển và đề xuất các hàm ý chính sách, khuyến nghị cụ thể cho các cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội logistics, doanh nghiệp logistics và doanh nghiệp xuất khẩu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tác động của hệ thống logistics tới xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam.
- Khách thể nghiên cứu: Hệ thống logistics quốc gia (xem xét dưới góc độ năng lực đầu vào và hiệu quả đầu ra gắn với nhu cầu thuê ngoài dịch vụ của doanh nghiệp xuất khẩu) và hoạt động xuất khẩu hàng hóa.
- Phạm vi nội dung: Tiếp cận ở cấp độ vĩ mô quốc gia; không nghiên cứu hoạt động logistics tự cấp mà tập trung vào dịch vụ logistics thuê ngoài từ các LSP.
- Phạm vi không gian: Thực trạng hệ thống logistics Việt Nam và dữ liệu thương mại song phương với 80 quốc gia và vùng lãnh thổ đối tác (chiếm 94–96% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu).
- Phạm vi thời gian: Phân tích thực trạng và ước lượng mô hình từ năm 2007 đến hết năm 2023 (năm 2007 là mốc Việt Nam gia nhập WTO và Ngân hàng Thế giới lần đầu công bố chỉ số LPI); định hướng và hàm ý chính sách được xây dựng đến năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án được chia theo các cấp độ tiếp cận:
- Nghiên cứu ở cấp độ quốc gia trên quy mô nhiều nước:
- Nghiên cứu định tính ban đầu của Lakshmanan (2001) và CARANA Corporation (2003) nhấn mạnh việc cải thiện hệ thống giao thông vận tải và dịch vụ hỗ trợ thương mại giúp giảm chi phí, rút ngắn thời gian và tăng năng lực cạnh tranh cho các nước đang phát triển. Devlin & Yee (2005) chỉ ra chi phí logistics và vận tải chiếm từ 7–25% giá thành hàng xuất khẩu tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi.
- Ứng dụng mô hình trọng lực: Behar & Manners (2008), Behar, Manners & Nelson (2011), Korinek & Sourdin (2011), Hausman et al. (2013), Martí et al. (2014), Puertas et al. (2014), Host et al. (2019), Bugarčić et al. (2020) đều chứng minh chỉ số LPI và các thành phần có tương quan thuận với kim ngạch xuất khẩu, giúp giảm hiệu ứng cản trở của khoảng cách địa lý. Ngược lại, Tarek et al. (2020) phát hiện LPI không có tác động rõ rệt tại một số quốc gia châu Phi do hạ tầng quá yếu kém. Munim & Schramm (2018) dùng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) khẳng định hạ tầng cảng biển nâng cao hiệu quả thương mại đường biển của 91 quốc gia.
| Tác giả (Năm) |
Phương pháp và dữ liệu |
Kết quả nghiên cứu nổi bật |
| Behar, Manners & Nelson (2011) |
Mô hình trọng lực, ước lượng 2 bước Heckman, 87 nước đang phát triển |
Cải thiện 1 độ lệch chuẩn logistics tương đương giảm 14% khoảng cách địa lý; tăng xuất khẩu 36% với nước quy mô trung bình. |
| Martí et al. (2014) |
Mô hình trọng lực, dữ liệu bảng các nước đang phát triển xuất khẩu sang 140 nước |
Mọi thành phần LPI đều thúc đẩy thương mại; thành phần chi phí có tác động nổi bật tại châu Phi, Nam Mỹ, Viễn Đông. |
| Puertas et al. (2014) |
Mô hình trọng lực 2 giai đoạn Heckman, 26 quốc gia EU (2005–2010) |
Logistics của nước xuất khẩu quan trọng hơn nước nhập khẩu; năng lực và chất lượng dịch vụ, truy xuất có vai trò lớn nhất. |
| Wang et al. (2018) |
Mô hình trọng lực tăng cường, 113 quốc gia (2007–2014) |
LPI và các hoạt động logistics xanh của nước xuất khẩu tác động tích cực đến khối lượng xuất khẩu. |
| Sénquiz-Díaz (2021a, 2021b) |
Mô hình bảng hiệu ứng cố định và SEM, 29–80 quốc gia |
Chất lượng đường bộ và cảng biển thúc đẩy xuất khẩu; hạ tầng hàng không và chất lượng dịch vụ thể hiện tác động không đồng nhất. |
- Nghiên cứu ở cấp độ một quốc gia:
- Nguyen & Tongzon (2010) sử dụng mô hình VAR đánh giá Australia, nhận thấy tăng trưởng thương mại thúc đẩy logistics nhưng chiều ngược lại chưa rõ rệt do hạ tầng vận tải nội địa tụt hậu so với nhu cầu.
- Bensassi et al. (2015) khảo sát Tây Ban Nha; Jouili & Khemissi (2019) nghiên cứu thương mại đường biển Tunisia; Töngür et al. (2020) phân tích sự đa dạng xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ sang 174 đối tác; Ma et al. (2021) phân tích 31 tỉnh của Trung Quốc dọc tuyến BRI; Wen-Si Cheng (2021) ứng dụng kinh tế lượng không gian phân tích hiệu ứng tích tụ logistics tại Hàn Quốc.
- Nghiên cứu tại Việt Nam:
- Bùi Liên Hà (2012) và Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (Victoria Kwakwa, 2013) phân tích định tính về hạ tầng và dịch vụ logistics hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu.
- Le Duc Nha (2018) sử dụng mô hình trọng lực nhưng đưa ra kết luận LPI chưa có tác động rõ rệt đến xuất khẩu Việt Nam.
- Phạm Hồ Hà Trâm và Đinh Trần Thanh Mỹ (2021) khẳng định LPI và các chỉ số phụ có tác động tích cực đến xuất khẩu hàng hóa Việt Nam.
- Ngo Thi Tuyet Mai và Nguyen Bich Ngoc (2019) đánh giá ở nhóm hàng phi nông sản; Le Duc Nha (2022) nghiên cứu đối với nhóm hàng thủy sản.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án tập trung giải quyết:
- Thiếu các nghiên cứu kết hợp đồng thời khung phân tích định tính toàn diện và mô hình định lượng chi tiết để đánh giá riêng rẽ từng thành tố của hệ thống logistics quốc gia tác động đến xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
- Các công trình thực nghiệm trước đây tại Việt Nam đưa ra kết quả trái chiều và chưa làm rõ cơ chế tác động của từng yếu tố đầu vào (cơ sở hạ tầng, pháp lý, nguồn cung dịch vụ) và hiệu quả đầu ra (thời gian, chi phí, độ tin cậy) đối với các khía cạnh biểu hiện cụ thể của xuất khẩu (năng lực chuyên chở theo các phương thức vận tải, sự dịch chuyển cơ cấu thị trường và mặt hàng xuất khẩu).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm và lý thuyết kinh tế quốc tế:
- Khái niệm logistics: Tiếp cận định nghĩa của Hội đồng các chuyên gia quản trị chuỗi cung ứng (CSCMP, trích qua Darja K. et al., 2011) và nguyên tắc quản trị 5 đúng (Lambert, 1998) gồm đúng sản phẩm, đúng địa điểm, đúng thời gian, đúng điều kiện và đúng chi phí.
- Khái niệm dịch vụ logistics: Sử dụng định nghĩa mở rộng của Trần Sĩ Lâm và cộng sự (2019), phân loại 16 nhóm dịch vụ theo Nghị định 163/2017/NĐ-CP của Chính phủ và phân cấp doanh nghiệp logistics thành 2PL, 3PL, 4PL, 5PL (Hoàng Văn Châu, 2009).
- Hệ thống logistics quốc gia: Phát triển từ khung phân tích của Banomyong (2008), Trịnh Thị Thu Hương và cộng sự (2019), Đoàn Ngọc Ninh (2020), gồm 4 thành phần:
- Cơ sở hạ tầng logistics (hạ tầng cứng gồm mạng lưới đường bộ, đường sắt, cảng biển, cảng hàng không, kho bãi; hạ tầng mềm gồm hệ thống công nghệ thông tin, viễn thông và nhân lực).
- Cơ sở pháp lý về logistics (hệ thống luật, nghị định, thông tư chuyên ngành và các cam kết quốc tế trong WTO, FTA).
- Nguồn cung dịch vụ logistics (các doanh nghiệp LSP).
- Nhu cầu dịch vụ logistics (các doanh nghiệp xuất khẩu thuê ngoài dịch vụ).
Khung phân tích định lượng của luận án thiết lập mối liên hệ giữa các thành tố của hệ thống logistics với 6 chỉ số thành phần trong chỉ số LPI do Ngân hàng Thế giới công bố:
- Nhóm năng lực đầu vào: LPI_Cơ sở hạ tầng (Infrastructure), LPI_Hải quan (Customs - đại diện cho môi trường pháp lý), LPI_Năng lực & Chất lượng dịch vụ logistics (Logistics quality and competence - đại diện cho nguồn cung LSP).
- Nhóm hiệu quả đầu ra: LPI_Vận chuyển quốc tế (International shipments - đại diện cho khả năng thu xếp chuyến hàng với chi phí hợp lý), LPI_Giao hàng đúng hạn (Timeliness - đại diện cho thời gian), LPI_Theo dõi & Truy xuất (Tracking and tracing - đại diện cho độ tin cậy).
Mô hình định lượng ứng dụng mô hình trọng lực mở rộng (Gravity Model of International Trade). Tác giả thiết lập 07 mô hình hồi quy (từ MH1 đến MH7) để ước lượng riêng rẽ tác động của chỉ số LPI tổng hợp và từng chỉ số LPI thành phần của Việt Nam đối với kim ngạch xuất khẩu sang các nước đối tác, có kiểm soát các biến đặc trưng như quy mô GDP, khoảng cách địa lý, đường biên giới chung, ngôn ngữ chung, việc tham gia FTA và các biến kiểm soát kinh tế vĩ mô khác.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp định tính: Hệ thống hóa, phân loại, mô hình hóa, thống kê mô tả, so sánh đối chiếu và phân tích tổng hợp dữ liệu thực tế về hạ tầng, văn bản pháp quy, năng lực doanh nghiệp LSP và cơ cấu xuất khẩu.
- Phương pháp định lượng: Ứng dụng phần mềm STATA 16 để xử lý dữ liệu bảng (panel data) của 80 quốc gia và vùng lãnh thổ trong giai đoạn 2007–2023. Quy trình kinh tế lượng bao gồm thống kê mô tả thang đo, ma trận tương quan, thực hiện các phương pháp hồi quy (OLS gộp, mô hình tác động cố định FEM, mô hình tác động ngẫu nhiên REM), tiến hành các kiểm định sau mô hình (kiểm định F-test, kiểm định Breusch-Pagan Lagrange Multiplier, kiểm định Hausman, kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến VIF, kiểm định phương sai sai số thay đổi Modified Wald/Wooldridge, và tự tương quan) để lựa chọn mô hình hồi quy tối ưu (FGLS, PCSE hoặc mô hình hiệu chỉnh phù hợp).
Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ:
- Cơ quan quản lý trong nước: Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, Bộ Công Thương, Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc VCCI.
- Tổ chức quốc tế: Ngân hàng Thế giới (báo cáo LPI các năm 2007, 2010, 2012, 2014, 2016, 2018, 2023), Cơ sở dữ liệu thống kê thương mại UN Comtrade, Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), Trung tâm Nghiên cứu Triển vọng và Thông tin Quốc tế của Pháp (CEPII - Geodist).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về tác động của logistics đối với xuất khẩu hàng hóa
Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam theo 3 cấp độ: cấp quốc gia (đa quốc gia và đơn quốc gia), cấp ngành hàng và cấp doanh nghiệp. Tác giả phân tích các luận điểm đã đạt được sự đồng thuận trong học thuật: logistics thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại; hệ thống logistics yếu kém tạo rào cản kỹ thuật; cải thiện chất lượng dịch vụ logistics gia tăng kim ngạch thương mại; và chi phí logistics là bộ phận cốt lõi của chi phí thương mại. Trên cơ sở đó, chương 1 xác định rõ khoảng trống nghiên cứu về sự thiếu vắng các công trình đánh giá toàn diện cả định tính và định lượng cho trường hợp một quốc gia đang phát triển như Việt Nam từ khi hội nhập WTO đến nay.
Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình định lượng đánh giá tác động của logistics đối với xuất khẩu hàng hóa
Chương 2 làm rõ hệ thống khái niệm về xuất khẩu hàng hóa (kim ngạch, cơ cấu sản phẩm, cơ cấu thị trường) và logistics (dịch vụ logistics, phân loại LSP, mô hình hệ thống logistics quốc gia). Tác giả xây dựng khung phân tích định tính chỉ ra các kênh truyền dẫn tác động từ các yếu tố logistics đầu vào và đầu ra tới xuất khẩu. Đồng thời, chương 2 thiết lập khung phân tích định lượng, đề xuất 07 phương trình hồi quy dựa trên mô hình trọng lực mở rộng, quy định rõ quy trình kiểm định kinh tế lượng và lựa chọn mô hình ước lượng tối ưu trên phần mềm STATA 16 nhằm chuẩn bị cho việc xử lý số liệu thực nghiệm.
Chương 3: Phân tích và đánh giá tác động của logistics đối với xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
Nội dung chương 3 được triển khai qua 3 hợp phần chính:
- Phân tích định tính: Đánh giá thực trạng hạ tầng logistics Việt Nam (hệ thống quốc lộ, cao tốc năm 2022, hệ thống cảng biển năm 2021, cảng hàng không, cảng cạn); khung pháp lý (Nghị định 140/2007/NĐ-CP, Nghị định 163/2017/NĐ-CP, các cam kết GATS, FTA); năng lực nguồn cung LSP (số lượng LSP từ 2010–2023, cơ cấu quy mô vốn và lao động đến 31/12/2022, thu nhập bình quân, kết quả sản xuất kinh doanh); và các yếu tố đầu ra (thời gian thông quan, chi phí xuất khẩu qua các giai đoạn 2005–2014, 2014–2020 và 2020–2022).
- Phân tích định lượng: Báo cáo kết quả thống kê mô tả, ma trận tương quan và kết quả hồi quy của 07 mô hình nghiên cứu (MH1 đến MH7) trên tập dữ liệu bảng 80 đối tác thương mại giai đoạn 2007–2023. Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình chỉ ra các ước lượng tối ưu, xác nhận mức độ tác động có ý nghĩa thống kê của chỉ số LPI tổng hợp và 6 chỉ số thành phần đến kim ngạch xuất khẩu.
- Đánh giá tổng quát: Tổng hợp mức độ tác động từ cao đến thấp của các thành tố logistics đối với xuất khẩu; phân tích kết quả phản ánh trên các phương diện thực tế như năng lực thông qua của hệ thống cảng biển, cảng hàng không (2015–2022), năng lực chuyên chở theo phương thức vận tải về khối lượng và giá trị (2007–2023), sự mở rộng số lượng thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD (2006–2022), quy mô 6 thị trường lớn nhất (2016–2023), và sự chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chủ lực năm 2023.
Chương 4: Định hướng và hàm ý chính sách phát triển logistics nhằm hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
Chương 4 phân tích bối cảnh kinh tế quốc tế và các quan điểm, mục tiêu phát triển xuất khẩu và dịch vụ logistics của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2050. Dựa trên kết quả định tính và thứ tự mức độ tác động được lượng hóa từ chương 3, tác giả xây dựng hệ thống giải pháp và hàm ý chính sách tập trung vào 5 nhóm nội dung:
- Tối ưu hóa chi phí logistics quốc gia.
- Xây dựng môi trường pháp lý minh bạch, nhất quán, tạo thuận lợi cho hoạt động logistics và xuất nhập khẩu.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng dịch vụ của các doanh nghiệp LSP Việt Nam.
- Đẩy mạnh đầu tư đồng bộ và kết nối cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, kho bãi, cảng biển.
- Cải thiện hiệu quả đầu ra của hệ thống logistics về mặt rút ngắn thời gian và tăng cường độ tin cậy chuỗi cung ứng.
Đồng thời, chương 4 đề xuất các khuyến nghị cụ thể đối với Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, các nhà cung cấp dịch vụ logistics (LSP) và các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa trong việc lựa chọn chiến lược thuê ngoài.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và phân loại toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa logistics và xuất khẩu theo 3 cấp độ: quốc gia, ngành hàng và doanh nghiệp.
- Bổ sung và phát triển khung lý thuyết về hệ thống logistics quốc gia, thiết lập luận cứ khoa học kết nối 4 thành phần của hệ thống logistics (hạ tầng, pháp lý, nguồn cung LSP, nguồn cầu doanh nghiệp xuất khẩu) với 6 chỉ số thành phần của chỉ số LPI theo hai nhóm năng lực đầu vào và hiệu quả đầu ra.
- Xây dựng hoàn chỉnh khung phân tích định tính và hệ thống 07 mô hình định lượng dựa trên mô hình trọng lực mở rộng, cho phép đánh giá đa chiều tác động của từng thành tố logistics tới các khía cạnh biểu hiện cụ thể của hoạt động xuất khẩu.
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bộ bằng chứng thực nghiệm đầy đủ về tác động của hệ thống logistics Việt Nam đối với xuất khẩu hàng hóa sang 80 thị trường đối tác trong giai đoạn dài 17 năm (2007–2023).
- Lượng hóa chính xác mức độ tác động của chỉ số LPI tổng hợp và xác định thứ tự ưu tiên về tầm quan trọng của từng chỉ số thành phần (LPI cơ sở hạ tầng, LPI hải quan, LPI năng lực dịch vụ, LPI vận chuyển quốc tế, LPI giao hàng đúng hạn, LPI theo dõi và truy xuất) đối với kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng phát triển của hệ thống logistics Việt Nam từ khi gia nhập WTO, chỉ rõ các điểm nghẽn về hạ tầng kết nối, hạn chế về quy mô vốn và lao động của các LSP, cùng các rào cản chi phí và thủ tục hành chính.
- Đề xuất hệ thống hàm ý chính sách có căn cứ khoa học cho Chính phủ, Bộ Công Thương, Bộ Giao thông Vận tải, Tổng cục Hải quan, cùng các khuyến nghị thiết thực cho các Hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics và doanh nghiệp xuất khẩu nhằm nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng hàng hóa xuất khẩu Việt Nam đến năm 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở cấp độ vĩ mô quốc gia, chưa thể đi sâu lượng hóa chi tiết cho từng ngành hàng xuất khẩu chuyên biệt hoặc phân tích hành vi cấp vi mô của từng nhóm doanh nghiệp.
- Nghiên cứu chỉ tập trung vào dịch vụ logistics thuê ngoài, chưa thu thập được dữ liệu định lượng về hoạt động logistics tự cấp do các doanh nghiệp xuất khẩu tự vận hành.
- Nguồn dữ liệu thứ cấp về chỉ số LPI của Ngân hàng Thế giới mang tính định kỳ và gián đoạn qua các năm (2007, 2010, 2012, 2014, 2016, 2018 và 2023), đòi hỏi các kỹ thuật xử lý dữ liệu bảng chuyên biệt.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng đánh giá tác động của logistics ở cấp độ ngành hàng cụ thể (nông sản, thủy sản, dệt may, da giày, điện tử) hoặc phân chia theo từng khu vực địa lý kinh tế của Việt Nam.
- Kết hợp khảo sát điều tra dữ liệu sơ cấp ở cấp độ doanh nghiệp để so sánh hiệu quả kinh tế giữa phương thức thuê ngoài dịch vụ logistics và phương thức logistics tự cấp.
- Đưa thêm các biến số mới vào mô hình nghiên cứu như logistics xanh, mức độ chuyển đổi số trong chuỗi cung ứng, và khả năng thích ứng của hệ thống logistics trước các cú sốc thương mại toàn cầu.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng, quy trình ứng dụng mô hình trọng lực mở rộng trên phần mềm STATA, và khung lý thuyết về hệ thống logistics quốc gia trong kinh tế quốc tế.
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công Thương, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Tài chính, Ban Chỉ đạo Quốc gia về Logistics): Cung cấp cơ sở khoa học và số liệu thực chứng để xây dựng quy hoạch phát triển hạ tầng giao thông, hoàn thiện hành lang pháp lý và hoạch định chiến lược phát triển dịch vụ logistics hỗ trợ xuất khẩu đến năm 2030.
- Đối với các Hiệp hội (VLA, VCCI) và các doanh nghiệp LSP: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng quy mô, năng lực cạnh tranh và cơ cấu dịch vụ của ngành logistics Việt Nam, hỗ trợ định hướng đầu tư phương tiện, công nghệ và mở rộng mạng lưới dịch vụ.
- Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về tối ưu hóa chi phí và thời gian giao hàng, giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược thuê ngoài dịch vụ logistics hiệu quả nhằm gia tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Khung phân tích định lượng của luận án sử dụng mô hình kinh tế lượng nào và quy mô mẫu nghiên cứu ra sao?
Luận án ứng dụng mô hình trọng lực trong thương mại quốc tế (Gravity Model of International Trade) mở rộng, thiết lập 07 mô hình hồi quy (MH1 đến MH7) trên phần mềm STATA 16. Mẫu nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng gồm 80 quốc gia và vùng lãnh thổ đối tác thương mại của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến hết năm 2023. Tổng kim ngạch xuất khẩu sang 80 thị trường này chiếm từ 94% đến 96% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong toàn bộ giai đoạn nghiên cứu.
2. Hệ thống logistics quốc gia được cấu thành bởi những yếu tố nào theo khung lý thuyết của luận án?
Dựa trên việc phát triển mô hình của Banomyong (2008) và Trịnh Thị Thu Hương và cộng sự (2019), hệ thống logistics quốc gia gồm 4 thành phần cơ bản: (1) Cơ sở hạ tầng logistics (hạ tầng phần cứng và phần mềm); (2) Cơ sở pháp lý về logistics (luật, nghị định, thông tư và cam kết quốc tế); (3) Các nhà cung cấp dịch vụ logistics - LSP (nguồn cung dịch vụ); (4) Khách hàng sử dụng dịch vụ logistics - các doanh nghiệp xuất khẩu thuê ngoài (nguồn cầu dịch vụ). Ba yếu tố đầu tạo nên năng lực đầu vào, yếu tố thứ tư phản ánh hiệu quả đầu ra (thời gian, chi phí, độ tin cậy).
3. Tại sao tác giả lựa chọn năm 2007 làm mốc thời gian bắt đầu cho giai đoạn nghiên cứu?
Tác giả lựa chọn mốc năm 2007 vì 3 lý do chính: (1) Năm 2007 đánh dấu sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO, mở ra giai đoạn phát triển và cải cách mạnh mẽ của hoạt động xuất khẩu và logistics; (2) Năm 2007 là năm đầu tiên Ngân hàng Thế giới nghiên cứu và công bố chỉ số hoạt động logistics (LPI); (3) Giai đoạn 2007–2023 (17 năm) là khoảng thời gian đủ dài để cung cấp cỡ mẫu dữ liệu bảng tin cậy phục vụ phân tích định lượng và đánh giá toàn diện các biến động thực tế.
4. Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp logistics nước ngoài tại Việt Nam có những quy định tỷ lệ vốn góp cụ thể nào?
Theo Nghị định 163/2017/NĐ-CP của Chính phủ, nhà đầu tư nước ngoài được phép góp vốn, thành lập doanh nghiệp hoặc mua cổ phần trong các doanh nghiệp logistics tại Việt Nam với các giới hạn tỷ lệ vốn góp: không vượt quá 49% đối với dịch vụ vận tải đường biển và đường thủy nội địa; không quá 50% đối với dịch vụ xếp dỡ container; và không quá 51% đối với dịch vụ vận tải đường bộ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Lê Minh Trâm đã hệ thống hóa và phát triển toàn diện cơ sở lý luận về tác động của hệ thống logistics quốc gia đối với hoạt động xuất khẩu hàng hóa. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích định tính thực trạng với phương pháp định lượng dựa trên mô hình trọng lực cho 80 thị trường đối tác giai đoạn 2007–2023, công trình đã xác định rõ cơ chế truyền dẫn và đo lường mức độ tác động của từng thành tố logistics tới xuất khẩu của Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc, đóng góp hệ thống hàm ý chính sách và giải pháp đồng bộ nhằm phát triển ngành logistics, tối ưu hóa chi phí và thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam phát triển bền vững đến năm 2030.