Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về tác động của logistics đối với xuất khẩu hàng hóa; Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình định lượng đánh giá tác động của logistics đối với xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia; Chương 3: Phân tích và đánh giá tác động của logistics đối với xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam; Chương 4: Định hướng và hàm ý chính sách phát triển logistics nhằm hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA LOGISTICS ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 1. Tình hình nghiên cứu về tác động của logistics đối với xuất khẩu hàng hóa Nghiên cứu tác động của logistics đối với TMQT nói chung hay đối với XK hàng hóa nói riêng có thể được tiến hành ở ba cấp độ: cấp độ quốc gia, cấp độ ngành và cấp độ DN. Cấp độ quốc gia Trên thực tế, khi mới bắt đầu được chú ý vào đầu thế kỉ XXI, các vấn đề có liên quan đến tác động của logistics đối với XK hàng hóa thường được nghiên cứu bằng các nghiên cứu định tính, chẳng hạn như nghiên cứu Lakshmanan, T.
(2001) đã chỉ ra sự cải thiện trong lĩnh vực vận tải nói riêng và logistics nói chung kết hợp với môi trường kinh tế tự do hóa có thể làm gia tăng khối lượng thương mại và nền kinh tế về quy mô và phạm vi trong hoạt động phân phối và sản xuất. Trên nguồn CSDL thu được từ điều tra khảo sát, Carana Corporation (2003) cũng đã phân tích rõ vai trò quan trọng của vận tải nói riêng và logistics nói chung trong TMQT của các nước đang phát triển. Tuy nhiên, trong gần hai thập niên trở lại đây, các công bố về tác động của logistics đối với XK hàng hóa ở góc độ vĩ mô lại thường gắn liền với phương pháp nghiên cứu định lượng. Trong đó, phân tích tổng quan tài liệu cho thấy mô hình trọng lực trong TMQT (Gravity Model of Trade) là mô hình được sử dụng chủ yếu để đánh giá ảnh hưởng của logistics đối với TMQT và XK hàng hóa ở cấp độ quốc gia.
Khi sử dụng mô hình trọng lực để đánh giá mức độ tác động của logistics đối với XK, các nhà nghiên cứu thường đo lường tác động của chỉ số LPI (Logistics Performance Index - chỉ số đo lường năng lực và hiệu quả của hệ thống logistics quốc gia do WB công bố) và các chỉ số thành phần của nó đối với tổng KNXK hàng hóa của một quốc gia, từ đó lượng hóa các tác động của logistics đối với XK về mặt giá trị. Trong đó, vai trò quan trọng của logistics đối với XK hàng hóa của các quốc gia được khẳng định trong phạm vi toàn thế giới với các nghiên cứu lên tới hàng trăm quốc gia (Behar & Manners, 2008; Wang et al., 2018; Munim & Schramm, 2018; Host et al. Bên cạnh đó, các học giả cũng phân biệt nhóm các nước đang phát triển và các nước phát triển, các nền kinh tế có thu nhập thấp và trung bình với các nền kinh tế có thu nhập trên trung bình và cao; hay các quốc gia có biên giới trên biển. Toàn cầu hóa đã làm cho các nền kinh tế với năng lực logistics tốt có thể phát triển nhanh hơn, cạnh tranh hơn và có xu hướng gia tăng đầu tư.
Từ đó cho thấy năng lực của hệ thống logistics quốc gia là một trong những yếu tố quan trọng của TMQT. Tổng quan tài liệu về tác động của logistics đối với xuất khẩu hàng hóa ở cấp độ quốc gia (quy mô nhiều quốc gia xuất khẩu) STT Tác giả (năm) Phương pháp và phạm vi nghiên cứu Kết quả nghiên cứu nổi bật 1 Lakshmanan, T. Phân tích thực trạng mối quan hệ giữa vận tải và thương mại của Chi phí vận tải giảm và thuế quan giảm làm cho thương mại tăng nhanh hơn nhiều so với thu nhập, R. (2001) các nước Bắc Mỹ, EU, Nam Á, Nam Phi và một số nước điển hình TMQT thâm nhập sâu hơn vào các hoạt động kinh tế, liên kết chúng với nhau, và điều chỉnh cơ cấu dựa trên các phương pháp phân tích định tính, thống kê, so sánh, kinh tế và năng suất của chúng, dẫn đến sự hình thành của các khối thương mại khu vực, trong đó tích nghiên cứu tình huống (case-study)… hợp hệ thống giao thông vận tải, tạo thuận lợi cho thương mại được quan tâm hàng 2 CARANA Phương pháp phân tích định tính dựa trên CSDL sơ cấp thu được Một trong những yếu tố quan trọng của khả năng cạnh tranh là mức độ mà hàng hóa có thể được vận Corporation từ điều tra khảo sát đối với các đại lý giao nhận hàng hóa về chi phí chuyển từ nhà máy, kho hàng hoặc cảng ở quốc gia XK đến các thị trường đích trên toàn thế giới một (2003) logistics và từ phỏng vấn chuyên sâu được thực hiện với các cá cách kịp thời và hiệu quả về chi phí.
Tuy nhiên, các quốc gia đang phát triển có hệ thống vận tải và nhân từ nhiều cơ quan chính phủ, hiệp hội DN và DN tư nhân. logistics yếu kém và không hiệu quả, dẫn đến thời gian vận chuyển lâu hơn, các vấn đề về dự đoán và Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng CSDL thứ cấp của Hiệp hội vận tải độ tin cậy, và chi phí giao dịch thương mại cao hơn, điều này làm giảm năng lực cạnh tranh của hàng hàng không quốc tế (IATA), WB, WTO và Hội nghị của Liên hóa. Do đó, cần cải thiện các hệ thống vận tải và logistics này cùng với việc cung cấp các DV hỗ trợ hợp quốc về Thương mại và Phát triển – UNCTAD thương mại nhằm thúc đẩy sự phát triển XK, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Devlin & Yee Phương pháp nghiên cứu định tính phân tích chuỗi logistics cho Chi phí logistics, chi phí vận tải cao, dao động từ 7–25% giá thành hàng XK, do DV vận tải đường (2005) sáu mặt hàng XK của các quốc gia ở khu vực Trung Đông và Bắc bộ kém hiệu quả, lượng hàng XK thấp dẫn đến thời gian vận chuyển lâu và nhu cầu tích lũy hàng tồn Ph kho tốn kém, chất lượng sản phẩm thấp và không nhất quán, thủ tục hải quan, quá cảnh qua biên giới và các thủ tục khác nhiều khó khăn, cản trở. 3 Behar & Manners Hồi quy theo mô hình trọng lực, sử dụng chỉ số LPI 2007 của WB Logistics của quốc gia XK và quốc gia đối tác có thể có tác động quan trọng đến XK song phương.
(2008) nhằm chứng minh mối quan hệ giữa logistics và XK song phương Logistics của các quốc gia láng giềng không có tầm ành hưởng nhiều nhưng lại có tác động mạnh đối của 150 quốc gia với các quốc gia không giáp biển. 4 Behar, Manners Mô hình trọng lực, sử dụng chỉ số LPI, có tính đến sự khác biệt Cải thiện logistics sẽ làm giảm chi phí thương mại và gia tăng XK của các quốc gia đang phát triển, & Nelson (2011) giữa các công ty và kháng cự đa phương, hồi quy theo phương nhưng mức độ tác động phụ thuộc vào kích thước của quốc gia đó: một cải thiện một độ lệch chuẩn pháp OLS và quy trình ước lượng 2 bước của Helpman, Melitz & trong logistics tương đương giảm khoảng cách khoảng 14%. Một quốc gia đang phát triển có quy mô Rubinstein (2008) nhằm đánh giá tầm quan trọng của logistics đối kinh tế trung bình sẽ tăng XK lên khoảng 36% và với các quốc gia có quy mô kinh tế nhỏ sẽ tăng lên với thương mại của 87 quốc gia đang phát triển khoảng 8%. 11 5 Korinek & Hồi quy theo mô hình trọng lực với chỉ số LPI và chỉ số GCR Logistics hiệu quả cao giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm XKcủa một quốc gia do giảm Sourdin (2011) (Global Competitiveness Report) - chỉ số Năng lực Toàn cầu của chi phí, điều này đặc biệt quan trọng đối với giao lưu buôn bán giữa các quốc gia có khoảng cách địa 150 quốc gia trên thế giới lý lớn.
Ngược lại, logistics không hiệu quả cản trở thương mại do làm tăng thời gian và chi phí. et Hồi quy theo mô hình trọng lực sử dụng dữ liệu bảng của chỉ số Hiệu quả logistics (về thời gian, chi phí và độ tin cậy) có mối liên hệ thống kê đáng kể với khối lượng al., (2013) LPI về thời gian, chi phí và độ tin cậy của các quốc gia được công thương mại song phương, khuyến nghị các quốc gia tập trung cải thiện các khía cạnh để tăng cường bố chỉ số LPI 2007, 2010, 2012 bởi WB hiệu quả logistics nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu. 7 Martí et al. (2014) Mô hình trọng lực hồi quy OLS theo quy trình hai bước của Sự cải thiện bất kỳ thành phần nào của chỉ số LPI đều làm tăng khối lượng thương mại.
Trong đó, chỉ Heckman (1979) với dữ liệu bảng của các nước đang phát triển số thành phần LPI đánh giá hiệu quả hoạt động logistics về mặt chi phí có mức độ cao ở Châu Phi, thuộc Nam Mỹ, Châu Phi, Đông Âu, Viễn Đông và Trung Đông Viễn Đông, Nam Mỹ và toàn bộ mẫu nghiên cứu, điều này được giải thích bởi sự cạnh tranh trong khu XK sang 140 quốc gia được công bố LPI 2007-2012 vực tư nhân thúc đẩy giảm giá cả DV nhằm đáp ứng động lực XK mạnh mẽ. 8 Puertas et al. Mô hình trọng lực dựa trên dữ liệu bảng được ước tính theo quy Với các nước EU: Logistics quan trọng với nước XK hơn nước nhập khẩu. LPI năng lực cũng như (2014) trình hai giai đoạn do Heckman (1979) cho tất cả 26 quốc gia EU chất lượng DV, truy xuất và theo dõi có ý nghĩa quan trọng nhất, phù hợp với thực tế giảm dần nhu cầu trong giai đoạn 2005-2010 nhập khẩu của các quốc gia EU nên cần tích cực thúc đẩy XK hàng hóa sang các nước ngoài EU 9 Martí & Sử dụng mô hình trọng lực và phương trình chi phí thương mại do Các quốc gia được phân tích nên tiếp tục nỗ lực cải thiện CSHT logistics, không chỉ để thúc đẩy thương Puertas,(2017) Novy (2013) đề xuất nhằm đánh giá tầm quan trọng của logistics mại mà còn để nâng cao sức cạnh tranh XK.
Họ đã thực hiện điều này cả từ khu vực tư nhân và khu trong thương mại của các quốc gia đang phát triển giáp biển vực công với nỗ lực tiến bộ quốc tế như một cách để thúc đẩy tăng trưởng quốc gia. 10 Luttermann et al. Mô hình trọng lực dựa trên CSDL bảng của 20 quốc gia châu Á Tồn tại mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa logistics và thương mại nhưng logistics không đóng góp (2017) trong những năm 2006-2014 vào khả năng thu hút FDI.