phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và các danh mục, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng tín dụng đối với khách hàng bán buôn 7 tại Ngân hàng Thƣơng mại - Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tín dụng đối với khách hàng bán buôn tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Sở giao dịch - Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng đối với khách hàng bán buôn tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Sở giao dịch 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG BÁN BUÔN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm và đặc điểm về tín dụng ngân hàng 1.1 Khái niệm tín dụng Trong nền kinh tế thị trƣờng các chủ thể của nền kinh tế đều phải sử dụng nguồn tài chính để đáp ứng yêu cầu tái sản xuất các mặt hoạt động của mình, từ đó thƣờng xuyên xuất hiện ba nhóm chủ thể: Nhóm 1 là những chủ thề thu vừa đáp ứng nhu cầu chi; Nhóm 2 là những chủ thể thu vƣợt quá nhu cầu chi, các chủ thể trong nhóm này dƣ thừa nguồn tài chính; Nhóm 3 là những chủ thể thu không đủ chi, các chủ thể trong nhóm này thiếu nguồn tài chính để đáp ứng yêu cầu tái sản xuất các mặt hoạt động của mình. Nhƣ vậy, trong nền kinh tế thị trƣờng thƣờng xuyên tồn tại mâu thuẫn giữa thừa nguồn tài chính ở chủ thể này và thiếu nguồn tài chính ở những chủ thể khác. Mâu thuẫn đó chỉ có thể giải quyết thông qua quan hệ cho vay (tín dụng). Vì vậy tín dụng là một tất yếu trong nền kinh tế thị trƣờng.
Tín dụng là một phạm trù kinh tế khách quan, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hóa, điều hòa vốn tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế từ nơi thừa sang nơi thiếu, … nhằm đáp ứng đƣợc yêu cầu về vốn của nền kinh tế. Kinh tế học hiện đại cho rằng “Tín dụng là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên chuyển giao tiền hoặc tài sản vô điều kiện theo thời hạn đã thoả thuận”. Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã đƣợc Quốc hội nƣớc CHXHCN Việt Nam thông qua thì: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép 9 sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Xét trên khía cạnh tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng ngân hàng đƣợc hiểu nhƣ sau: “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung (i) Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sử hữu sang cho người sử dụng; (ii) sự chuyển nhượng này có thời hạn và chỉ mang tính tạm thời và (iii) sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí” (Võ Đình Toàn, Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, NXB Công An Nhân Dân, Đại học Luật Hà Nội 2017). Nhƣ vậy, tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mƣợn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng. Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mƣợn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhƣợng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả 2 bên cùng có lợi.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là hoạt động truyền thống của ngân hàng.
Đó là một khoản mục cơ bản của tài sản có của một ngân hàng. Nó phát triển đa dạng và hoàn thiện với nhiều loại hình khác nhau từ cho vay ngắn hạn đến cho vay với thời hạn dài. Mà thời hạn cấp tín dụng càng dài thì tính rủi ro càng lớn, do đó lãi suất cho vay dài hạn càng lớn hơn lãi suất cho vay ngắn hạn. Trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, phải thỏa mãn 4 đặc điểm: lòng tin, tính hoàn trả, tính thời hạn và ẩn chứa nhiều khả năng rủi ro.
- Một là, quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở đánh giá, thẩm định về khả năng trả nợ và thiện chí trả nợ giữa hai bên. Ngân hàng cấp tín dụng khi tin tƣởng, đánh giá rằng ngƣời đi vay có thiện chí trả nợ và có khả năng trả nợ. Đồng thời ngân hàng tin 10 rằng ngƣời sử dụng lƣợng giá trị đó sẽ thu đƣợc lƣợng giá trị cao hơn, đạt hiệu quả sau một thời gian nhất định, ngƣời cho vay cũng tin tƣởng ngƣời đi vay có thiện chí trả nợ thì quan hệ cho vay mới xảy ra. Nhƣ vậy có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng.
- Hai là tính hoàn trả. Đối với tín dụng ngân hàng thì đây là đặc trƣng cơ bản nhất và sự hoàn trả là tiêu chuẩn phân biệt quan hệ tín dụng ngân hàng với các quan hệ tài chính khác. Trong tính hoàn trả thì lƣợng vốn đƣợc chuyển nhƣợng phải đƣợc hoàn trả đúng hạn về cả thời gian và về giá trị bao gồm hai bộ phận: Gốc và lãi. Phần lãi phải đảm bảo cho lƣợng giá trị hoàn trả lớn hơn lƣợng giá trị ban đầu.
Sự chênh lệch này là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời. Nói cách khác, nó là giá trị cho sự sinh quyền sử dụng vốn hiện tại của ngƣời sở hữu, vì thế nó phải đủ hấp dẫn để ngƣời sở hữu có thể sẵn sàng hy sinh quyền sử dụng nó. Mặt khác nếu không có sự hoàn trả thì đó là quan hệ cho vay không hoàn hảo. - Ba là, tính thời hạn.
Xuất phát từ bản chất của tín dụng là sự tín nhiệm, ngƣời cho vay tin tƣởng ngƣời đi vay sẽ hoàn trả vào một ngày trong tƣơng lai. Ngƣời đi vay chỉ đƣợc sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời gian sử dụng theo thỏa thuận, ngƣời đi vay hoàn trả cho ngƣời cho vay. - Bốn là, hoạt động tín dụng ngân hàng ẩn chứa nhiều khả năng rủi ro. Do sự không cân xứng về thông tin và ngƣời cho vay không hiểu rõ hết về ngƣời đi vay.
Một mối quan hệ tín dụng đƣợc gọi là hoàn hảo nếu ngƣời đi vay hoàn trả đƣợc đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn. Tuy nhiên trong thực tế không phải mọi việc lúc nào cũng diễn ra một cách trôi chảy, không hiếm trƣờng hợp ngƣời đi vay không thực hiện đƣợc ngh a vụ của mình đối với ngân hàng do các nguyên nhân khách quan hay chủ quan gây ra. Đó là trƣờng hợp khi đến hạn hoàn trả vốn vay, ngƣời đi vay không thể thực hiện đƣợc việc trả nợ cho ngƣời cho vay dẫn đến các khoản nợ bị quá hạn. Nợ xấu là biểu hiện không lành mạnh của quá trình hoạt động tín dụng, là sự báo hiệu của rủi ro.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng hỗ trợ cho sự phát triển của Khách hàng doanh nghiệp khách hàng bán buôn Thông qua hoạt động cấp tín dụng, ngân hàng tạo điều kiện cho các chủ doanh 11 nghiệp tiếp cận đƣợc với nguồn vốn từ đó thực hiện đƣợc mục tiêu thành lập và phát triển doanh nghiệp.
Qua nguồn vốn đƣợc tài trợ bởi ngân hàng, các Khách hàng doanh nghiệp có điều kiện nâng cấp các máy móc thiết bị, khoa học k thuật, tài trợ nhu cầu đào tạo nâng cao trình độ của cán bộ công nhân viên, qua đó, góp phần làm tăng năng suất, cải thiện năng lực cạnh tranh. Ngoài ra, ngân hàng có thể hỗ trợ Khách hàng doanh nghiệp mở rộng quan hệ thƣơng mại với các đối tác, giao lƣu kinh tế quốc tế, quảng bá sản phẩm từ đó có thể đẩy mạnh xuất khẩu. Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho Khách hàng doanh nghiệp khách hàng bán buôn Quy mô vốn của Khách hàng doanh nghiệp khách hàng bán buôn tƣơng đối lớn. Do đó, để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, các Khách hàng doanh nghiệp khách hàng bán buôn thƣờng phải tìm kiếm thêm các nguồn vốn từ bên ngoài để tận dụng đòn bẩy tài chính trong hoạt động kinh doanh, trong đó nguồn vốn ngân hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Các Khách hàng doanh nghiệp khách hàng bán buôn phải xây dựng cơ cấu vốn hợp lý, kết hợp hiệu quả giữa vốn vay và vốn tự có nhằm sản xuất ra sản phẩm tại giá vốn bình quân tối ƣu nhất, nhƣng vẫn đảm bảo đƣợc chất lƣợng hàng hóa, đƣợc thị trƣờng chấp nhận và tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các Khách hàng doanh nghiệp khách hàng bán buôn Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng phải đảm bảo việc hoàn trả cả vốn lẫn lãi theo đúng thời hạn quy định. Trong trƣờng hợp quá hạn, doanh nghiệp phải chịu lãi suất phạt cao đồng thời ảnh hƣởng xấu đến uy tín của doanh nghiệp. Vì vậy, ngay từ khi lập phƣơng án sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp đã phải quan tâm tới việc lên kế hoạch sử dụng vốn nhằm tăng nhanh vòng quay của vốn, rút ngắn thời gian vay nợ, giảm chi phí lãi vay, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất vay vốn để đảm bảo hoạt kinh doanh có lãi.
Nhƣ vậy, tín dụng ngân hàng giúp tạo động lực thúc đẩy các Khách hàng doanh nghiệp khách hàng bán buôn sử dụng vốn một cách hiệu quả.