CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1. Khái niệm tín dụng Ngân hàng 1. Khái niệm tín dụng - Theo quan điểm của Các Mác “Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng, sau một thời gian nhất định sẽ thu hồi lại một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu” (Các Mác, 1963).
Kinh tế học hiện đại cho rằng “Tín dụng là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên chuyển giao tiền hoặc tài sản vô điều kiện theo thời hạn đã thoả thuận”. Theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 “cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”. Các nhà kinh tế học hiện đại, đã nghiên cứu và đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về tín dụng. Nhà kinh tế học A.Arerit và Ksuk định nghĩa tín dụng như sau: “Tín dụng phát sinh giữa một bên (người cho vay) trao cho bên khác (người đi vay) quyền sử dụng một số tiền nhất định, trong đó người đi vay có nhiệm vụ phải trả lại số tiền vay đó đúng hạn quy định.
Để có quyền sử dụng tư bản đó bên đi vay phải trả một khoản bồi thường, tức là lợi tức”. Theo Opst và Khimt Nher, đặc trưng của quan hệ tín dụng là “người cho vay thực hiện ngay nghĩa vụ của mình nhưng chỉ nhận được quyền lợi trong tương lai xa hơn. Những rủi ro đặc biệt của hành động tín dụng chủ yếu xuất phát từ đó”. Như vậy, Tín dụng là việc chuyển giao vốn (tiền tệ) dựa trên cơ sở tín nhiệm và theo nguyên tắc hoàn trả.
Theo đó, người cho vay chuyển giao quyền sử dụng 7 một lượng tiền tệ ở thời điểm hiện tại cho người vay trong một thời hạn nhất định tại để đổi lấy quyền hưởng lợi tức trong tương lai mà trong đó tính “sinh lời” và “rủi ro” được nhấn mạnh. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, bản chất của “tín dụng” được biểu hiện ở nhiều lĩnh vực kinh tế khác như: tín dụng hàng hóa (bán chịu, thu tiền sau), bảo lãnh, ký thác cho vay dưới nhiều hình thức, chiết khấu,… Các chủ thể trong các mối quan hệ tín dụng nêu trên thường phải tuân thủ cam kết như: điều kiện giao hàng hóa và thanh toán tiền; thời điểm sẽ phải hoàn lại tiền bạc (bao gồm cả lợi tức) hay hàng hóa với những điều kiện cam kết nhất định. Việc cho vay và hoàn trả là hai bước quan trọng trong quy trình tín dụng. Tuy nhiên, quy trình tín dụng còn bao gồm quá trình sử dụng tiền vay trong hoạt động sản xuất và kinh doanh của người đi vay.
Như vậy, quy trình tín dụng được thực hiện theo chu kỳ sau: cho vay – sử dụng vốn – hoàn trả. Trong quá trình sử dụng vốn, nếu người vay gặp sự cố và không hoàn trả được vốn vay thì họ có thể phải gánh chịu một phần hậu quả theo quy định của Pháp luật về xử lý nợ tại tòa án,… 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Trong các hình thức “tín dụng” thì tín dụng ngân hàng là một hình thức quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu cầu tín dụng cho các chủ thể của nền kinh tế. Với hệ thống các ngân hàng hiện đại như hiện nay, tín dụng ngân hàng càng trở thành một hình thức không thể thiếu trong cả nước và quốc tế.
- Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu kinh tế: Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. Khác với tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng không cung cấp tín dụng dưới hình thức hàng hoá. Như vậy, tín dụng ngân hàng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong việc vay và cho vay giữa các NH, các TCTD với các pháp nhân và cá nhân, được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng Thứ nhất, “Lòng tin” là đặc điểm đầu tiên của tín dụng ngân hàng.
Ngân hàng chỉ đồng ý cấp tín dụng khi xác định đủ cơ sở để có lòng tin vào việc Khách hàng 8 của mình sử dụng vốn vay đúng mục đích, phương án kinh doanh của Khách hàng hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (cả gốc và lãi) đúng thời hạn cam kết. Thứ hai, trong tín dụng ngân hàng, Ngân hàng đóng vai trò trung gian tài chính, là nơi dẫn vốn từ người dư thừa vốn đến người thiếu hụt vốn hay nói cách khác là “đi vay để cho vay”. Vì thế, mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều có thời hạn để bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động. Đây là đặc điểm thứ hai của tín dụng ngân hàng “Tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn”.
Thứ ba, Tín dụng phải dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Như đã đề cập tới ở mục “Khái niệm tín dụng”, hoàn trả là bước quan trọng của quy trình tín dụng. Nếu không có hoàn trả thì sẽ không được coi là tín dụng. Giá trị hoàn trả bao gồm cả giá trị gốc và khoản lãi.
Điều này có nghĩa là, giá trị hoàn trả phải luôn lớn hơn giá trị lúc cho vay, như vậy thì mới có thể bù đắp được chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, phản ánh hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Thứ tư, Tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng. Việc thu hồi tín dụng không chỉ phụ thuộc vào khách hàng, mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: sự biến động về giá cả, lãi suất, tăng trưởng kinh tế, tỷ giá, lạm phát, thiên tai. Vì vậy, khi các khách hàng gặp khó khăn do sự biến động của môi trường kinh doanh làm ảnh hưởng tới nguồn thu của họ sẽ dẫn tới việc Khách hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho Ngân hàng gặp rủi ro.
Thứ năm, Tín dụng ngân hàng trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Quá trình cho vay của Ngân hàng luôn diễn ra trên cơ sở những căn cứ có tính pháp lý chặt chẽ được ký kết giữa Ngân hàng và bên đi vay như: Hợp đồng tín dụng, khế ước vay tiền,. trong đó bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn. Từ các đặc điểm của tín dụng ngân hàng, ta thấy: Tín dụng ngân hàng luôn phải đảm bảo hai nguyên tắc sau: - Bên đi vay phải sử dụng vốn vay đúng mục đích - Bên đi vay phải hoàn trả cả gốc và lãi đúng điều khoản đã được cam kết, thỏa thuận ghi trong hợp đồng cho vay cho Ngân hàng.
Phân loại tín dụng ngân hàng Tùy theo mục đích nghiên cứu, có rất nhiều cách để phân loại tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, tín dụng ngân hàng thường được phân loại theo một số cách như sau: 1. Theo mục đích sử dụng tiền vay Căn cứ theo mục đích sử dụng tiền vay, tín dụng ngân hàng được chia thành hai loại như sau: - Tín dụng tiêu dùng: là loại cấp tín dụng cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của Khách hàng. Loại tín dụng này thường được dùng cho các mục đích như: mua sắm các thiết bị gia đình, nhà cửa, xe cộ đi lại,.
Do mức sống của người dân ngày càng tăng cao nên loại tín dụng tiêu dùng này đang có xu hướng tăng lên. - Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: là loại tín dụng được cung cấp cho các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp để họ tiến hành sản xuất và kinh doanh tạo ra lợi nhuận kinh tế. Theo thời hạn sử dụng tiền vay Căn cứ theo thời hạn sử dụng tiền vay, tín dụng ngân hàng được chia thành ba loại như sau: - Tín dụng ngắn hạn: Là loại TD có thời hạn < 12 tháng, loại này thường được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung vốn lưu động đang thiếu hụt tạm thời về của các tổ chức, cá nhân hoặc cho vay để phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân. - Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn ≥ 12 tháng và < 60 tháng, loại này thường được dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, đầu tư máy móc thiết bị, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: Là loại TD có thời hạn ≥ 60 tháng, loại này được sử dụng cấp tín dụng cho việc xây dựng cơ bản, cải tiến mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Thông thường tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất. Theo hình thức đảm bảo tiền vay Theo hình thức đảm bảo tiền vay, tín dụng được chia thành hai loại: 10 - Tín dụng không có đảm bảo: Là loại hình tín dụng mà khoản vay được cấp không cần có tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào uy tín của Khách hàng (tín chấp). Loại hình này thường áp dụng cho những Khách hàng truyền thống, có quan hệ giao dịch lâu năm với Ngân hàng, Khách hàng này phải có tình hình tài chính tốt và có uy tín như: lịch sử trả nợ tốt (trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi) có phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ theo đúng cam kết.
- Tín dụng có đảm bảo: Là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra đều có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như cầm cố, thế chấp, chiết khấu và bảo lãnh.