CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. DỊCH VỤ CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 1. Khái niệm Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đối tượng được xem là khách hàng cá nhân: cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác.
Cho vay đối với khách hàng cá nhân là hoạt động tín dụng của ngân hàng cho chủ thể là các cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác. Ngân hàng tài trợ vốn cho cá nhân, phục vụ việc sản xuất kinh doanh, tiêu dùng của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định dựa trên nguyên tắc hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi. Đặc điểm Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng: Dịch vụ ngân hàng phức tạp hơn so với các dịch vụ khác. Các dịch vụ ngân hàng có thể tác động lên tinh thần và/ hoặc lên tài sản của khách hàng.
Dịch vụ của ngân hàng hầu hết là dịch vụ dành cho các tài sản và quyền sở hữu mà khách hàng không cảm thấy được. Ngoài những đặc thù cơ bản của dịch vụ nói chung thì dịch vụ Ngân hàng còn mang những đặc điểm riêng khác (Lâm Chí Dũng, Mai Thị Thanh Chung, 2014) - Tính phi vật chất: Không giống với những sản phẩm vật chất, dịch vụ 9 không thể nhìn, nếm, nghe hay ngửi thấy được truớc khi người ta mua chúng. Để giảm bớt mức độ không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm các dấu hiệu hay bằng chứng về chất lượng dịch vụ. Họ sẽ suy diễn về chất lượng dịch vụ từ địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu, thông tin, biểu tượng và giá cả mà họ thấy.
- Tính không đồng nhất : Còn gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực, đối tượng và địa điểm phục vụ. Đặc tính này thể hiện rõ nhất đối với các dịch vụ bao hàm sức lao động cao. Việc đòi hỏi chất lượng đồng nhất từ đội ngũ nhân viên sẽ rất khó đảm bảo (Caruana & Pitt, 1997).
Trong một số trường hợp, tính không thuần nhất của dịch vụ tạo ra sự linh hoạt, cá nhân hóa cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, các nhà quản trị phải biết dung hòa giữa mặt tốt và mặt không tốt của nó, nhờ vào nhân viên tiếp xúc - Tính không thể tách rời : Thể hiện ở việc khó phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là sản xuất và sử dụng. Dịch vụ thường được tạo ra và sử dụng đồng thời. Đối với sản phẩm hàng hoá, KH chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, còn đối với dịch vụ, KH đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ.
Đối với những dịch vụ có hàm lượng lao động cao, ví dụ như chất lượng xảy ra trong quá trình chuyển giao dịch vụ thì chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình tương tác giữa KH và nhân viên của công ty cung cấp dịch vụ. - Tính không thể tồn kho : Dịch vụ không thể cất giữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hoá khác. Tính không lưu giữ được của dịch vụ sẽ không thành vấn đề khi mà nhu cầu ổn định. Khi nhu cầu thay đổi, các công ty dịch vụ sẽ gặp khó khăn.
Ví dụ như có những thời điểm nhân viên NH ngồi không vì KH giao dịch rất ít nhưng lại có những thời điểm không đủ nhân viên để phục vụ. 10 - Hoạt động ngân hàng đòi hỏi phần lớn nhân viên phải được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ. Họ không chỉ giỏi về nghiệp vụ mà phải giỏi trong giao tiếp, phục vụ và quan hệ với khách hàng. Không những thế, họ còn phải kịp thời cập nhật những thể lệ, quy định mới của Nhà nước, của chính sách Ngân hàng.
- Mức độ tương tác và tham gia của các khách hàng trong cung ứng dịch vụ sẽ thay đổi với nhiều mức độ từ thấp đến trung bình và cao. Tương tự như vậy, mức độ biến động của nhu cầu khách hàng về các dịch vụ của ngân hàng sẽ là khác nhau. Đối với một số dịch vụ, nhu cầu khách hàng có biên độ giao động rất mạnh tùy thuộc vào những biến động của môi trường kinh doanh. Ngược lại, nhu cầu của các khách hàng đối với một số dịch vụ khác lại biến động không nhiều khi môi trường kinh doanh thay đổi.
- Khách hàng có thể giao dịch với ngân hàng tại nhiều địa điểm khác nhau nhờ sự phát triển của mạng lưới, quan hệ đại lý với các ngân hàng đồng nghiệp. Điều này xuất phát từ đặc thù nghiệp vụ và dựa trên nền tảng công nghệ ứng dụng trong ngân hàng. Dịch vụ của ngân hàng có thể được cung cấp cho khách hàng dần dần, từng phần hoặc có thể biến đổi tùy theo yêu cầu của họ. Đặc điểm của dịch vụ cho vay đối với khách hàng cá nhân: Ngoài những đặc điểm của một dịch vụ ngân hàng nói chung, dịch vụ cho vay đối với khách hàng cá nhân còn có những đặc điểm riêng sau: - Hầu hết các khoản cho vay khách hàng cá nhân có quy mô nhỏ nhưng số lượng khách hàng lớn và thường phân tán về mặt địa lý.
Nhu cầu đa dạng và phức tạp. Do đó chi phí trong việc phát triển khách hàng, thẩm định, xét duyệt và quản lý khoản vay thường lớn. - Các khoản vay đối với khách hàng cá nhân thường có rủi ro hơn so với khách hàng doanh nghiệp do tình hình tài chính của khách hàng thường 11 thay đổi nhanh chóng phụ thuộc vào tình hình công việc và tình trạng sức khỏe của họ. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cá nhân, hộ gia đình thường có trình độ quản lý yếu, trình độ khoa học và công nghệ yếu.
- Lãi suất cho vay đối với khách hàng cá nhân thường cao hơn so với khách hàng doanh nghiệp do rủi ro và chi phí cao hơn. - Mục đích vay của khách hàng cá nhân là phục vụ mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh. Do đó nguồn trả nợ có thể là từ chính kết quả sử dụng khoản vay hoặc từ thu nhập của những người tham gia trả nợ vay. Phân loại Phân loại theo thời hạn cho vay: - Cho vay ngắn hạn: Là các khoản vay có thời hạn dưới 12 tháng.
- Cho vay trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn từ 12 tháng đến dưới 60 tháng. - Cho vay dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn trên 60 tháng. Phân loại theo mục đích sử dụng vốn: - Cho vay tiêu dùng như mua nhà, xây dựng, sửa chữa nhà ở, mua ô tô… và một số mục đích tiêu dùng khác. - Cho vay sản xuất kinh doanh.
Phân loại theo tài sản đảm bảo: - Cho vay có tài sản đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác. - Cho vay không tài sản đảm bảo: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay. Phân loại theo phương thức cho vay: - Cho vay theo hạn mức. Đây là hình thức cho vay áp dụng đối với cá 12 nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh.
Thời hạn cho vay thường là ngắn hạn. Nguồn trả nợ là từ chính kết quả của hoạt động kinh doanh. - Cho vay từng lần. Trong phương thức cho vay từng lần có hai hình thức cho vay từng lần giải ngân một lần và cho vay từng lần giải ngân nhiều lần.
CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1. Khái niệm chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là một khái niệm gây nhiều chú ý và tranh cãi trong nhiều tài liệu. Tùy thuộc vào đối tượng và môi trường nghiên cứu khác nhau mà mỗi nhà nghiên cứu đưa ra những khái niệm khác nhau về chất lượng dịch vụ: Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của KH về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể. Nó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ ta nhận được (Zeithaml, 1987, dẫn theo Gi-Du Kang & Jeffrey James, 2004) Chất lượng dịch vụ là mức độ mà một dịch vụ đáp ứng được nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng (Lewis & Mitchell, 1990; Asubonteng & ctg, 1996; Wisniewski & Donnelly, 1996, dẫn theo Arash Shashin, 2006).
Theo Parasuraman & cộng sự (1985, 1988), chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của KH và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ. Khái niệm này cũng có thể được coi là một khái niệm tổng quát 13 nhất, bao hàm đầy đủ ý nghĩa của dịch vụ, đồng thời cũng chính xác nhất khi xem xét chất lượng dịch vụ đứng trên quan điểm của khách hàng. Như vậy, chất lượng dịch vụ là một dạng thái độ, một sự cảm nhận mang tính so sánh của KH giữa mong đợi của họ về dịch vụ và nhận thức của chính họ với những gì mà họ nhận được từ nhà cung cấp dịch vụ. Tiêu chuẩn của KH mới là tiêu chuẩn thực sự và sự đánh giá của KH mới là thước đo sự thành công của doanh nghiệp dịch vụ trong quản trị chất lượng.
Đánh giá chất lượng dịch vụ a. Các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ Mô hình SERVQUAL (Parasuraman, 1988) Đây là mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ phổ biến và được áp dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu marketing. Theo Parasuraman, chất lượng dịch vụ không thể xác định chung chung mà phụ thuộc vào cảm nhận của khách hàng đối với dịch vụ đó và sự cảm nhận này được xem xét trên nhiều yếu tố. Mô hình SERVQUAL được xây dựng dựa trên quan điểm chất lượng dịch vụ cảm nhận là sự so sánh giữa các giá trị kỳ vọng/mong đợi (expectations) và các giá trị khách hàng cảm nhận được (perception).