Chương 1. Cơ sở luận lý luận về chất lượng tín dụng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại. Thực trạng chất lượng tín dụng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Hà Nam. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Hà Nam.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát chung về tín dụng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp là thuật ngữ được sử dụng nhằm gọi tên chung các tổ chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung cấp sản phẩm, dịch vụ trên thị trường. Theo từ điển tiếng Việt “Doanh nghiệp” là đơn vị hoạt động kinh doanh, làm các công việc kinh doanh.
Theo Luật doanh nghiệp số 59/2021/QH14: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. Như vậy, doanh nghiệp được hiểu là một chủ thể kinh tế độc lập, thành lập theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích kinh doanh kiếm lợi nhuận. Tùy theo từng quốc gia, tiêu chí xác định DNNVV sẽ khác nhau.
Tại Việt Nam, thường xuyên có sự điều chỉnh phù hợp với từng thời kỳ: Theo Điều 6, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 về Quy định chi tiết một số điều của luật hỗ trợ DNNVV: DNNVV bao gồm những doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa đáp ứng tiêu chí số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm và một trong 2 tiêu chí tổng nguồn vốn hoặc tổng doanh thu của năm trước liền kề, thể hiện qua bảng dưới đây. Tiêu chí phân loại DNNVV theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Số LĐ Số LĐ Số LĐ Tổng Tổng Tổng Lĩnh tham gia tham gia tham gia nguồn vốn nguồn vốn nguồn vốn vực BHXH BHXH BHXH hoặc doanh hoặc hoặc bình bình bình thu doanh thu doanh thu quân quân quân Tổng Tổng 1. Tổng nguồn nguồn vốn nguồn vốn Nông vốn từ 1 tỷ trên 1 tỷ Từ trên từ trên 10 Từ trên nghiệp, đồng trở đồng đến 100 đến 100 tỷ 10 người 10 người lâm xuống hoặc 10 tỷ đồng người đồng hoặc trở xuống đến 100 nghiệp, DT từ 3 tỷ hoặc DT từ đến 200 DT từ trên người thủy đồng trở trên 3 tỷ người 50 tỷ đồng sản xuống đồng đến đến 200 tỷ 50 tỷ đồng đồng Tổng Tổng Tổng nguồn nguồn vốn nguồn vốn vốn từ 1 tỷ từ trên 1 tỷ Từ trên từ trên20 tỷ 2. Công Từ trên đồng trở đồng 100 đồng đến nghiệp 10 người 10 người xuống hoặc đến20 tỷ người 100 tỷ đồng và xây trở xuống đến 100 DT từ 3 tỷ đồng hoặc đến 200 hoặc DT từ dựng người đồng trở DT từ trên người trên 100 tỷ xuống 3đến 100 đồng đến tỷ đồng 300 tỷ đồng Tổng Tổng Tổng nguồn nguồn vốn nguồn vốn vốn từ 1 tỷ từ trên 1 tỷ từ trên 10 3.
Từ trên Từ trên đồng trở đồng đến tỷ đồng đến Thương 10 người 10 người 50 người xuống hoặc 10 tỷ đồng 100 tỷ đồng mại và trở xuống đến 50 đến 100 DT từ 10 tỷ hoặc DT từ hoặc DT từ dịch vụ người người đồng trở trên 10 tỷ trên 50 tỷ xuống đồng đến đồng đến 50 tỷ đồng 200 tỷ đồng Nguồn: Chính phủ, 2018 Theo Điều 5, Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/08/2021 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật hỗ trợ DNNVV, có một số điều chỉnh và làm rõ hơn: 11 Đối với doanh nghiệp siêu nhỏ, tiêu chí tổng nguồn vốn của năm tăng từ 1 tỷ đồng lên 3 tỷ đồng, cụ thể: “Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng”. Đối với DN nhỏ, tiêu chí tổng nguồn vốn và tổng doanh thu được điều chỉnh cho phù hợp với từng lĩnh vực, cụ thể: “Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này”.
Đối với DN vừa, tiêu chí tổng doanh thu được điều chỉnh cho phù hợp với từng lĩnh vực và quy định cụ thể hơn: “Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại NĐ này”. Khái niệm tín dụng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa *Khái niệm tín dụng ngân hàng Theo Bùi Diệu Anh, 2015: “Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa ngân hàng với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán” Theo khoản 14 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Từ trình bày trên, có thể khái quát tín dụng ngân hàng như sau: Có sự chuyển giao quyền sử dụng tài sản/tiền từ ngân hàng (người cho vay) cho khách hàng (người đi vay) Có tính thời hạn, sự chuyển giao chỉ mang tính chất tạm thời.
Bên đi vay sử dụng tạm thời tài sản/tiền vay trong một thời gian nhất định, hết thời hạn thỏa thuận, bên đi vay phải hoàn trả lại bên cho vay. Có tính hoàn trả, khi hoàn lại tài sản/tiền đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm thêm một lượng giá trị dôi thêm - gọi là lãi hay lợi tức. * Tín dụng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa Từ khái niệm về tín dụng ngân hàng và khái niệm về DNNVV, có thể hiểu tín dụng đối với DNNVV như sau: “Tín dụng đối với DNNVV là hình thức cho vay trong đó ngân hàng thương mại cho DNNVV sử dụng một khoản tiền để dùng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”. Đặc điểm tín dụng khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa Xuất phát từ đặc điểm của DNNVV, các đặc điểm tín dụng KH DNNVV được thể hiện cụ thể như sau: 13 Thứ nhất, số lượng một món vay không lớn, chủng loại món vay nhiều.
Số lượng một món vay không lớn do từng DN hấp thụ vốn không nhiều, quy mô kinh doanh nhỏ. Chủng loại món vay nhiều, do số lượng DNNVV lớn, đa dạng về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Do các DNNVV có quy mô nguồn vốn không lớn, vì vậy, thường đầu tư vào các dự án có vốn phù hợp với khả năng, nên ngoài vốn tự có, số tiền vay NHTM thường nhỏ. Do đó, NHTM sẽ luôn cân nhắc giữa chi phí bỏ ra như chi phí quản lí, chi phí tìm kiếm thông tin về DN, các chi phí khác…và lãi thu được từ khoản vay đó có bù đắp được chi phí và sinh lời cho NHTM hay không? Thứ hai, thông tin về khoản vay có độ tin cậy thấp. Số lượng DNNVV lớn, sản xuất kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhau, báo cáo tài chính hàng năm không được kiểm toán, nên thông tin về khoản vay có độ tin cậy thấp, vì vậy, đòi hỏi cán bộ thẩm định và cán bộ quan hệ KH cần có nhiều kênh thông tin tham khảo để xem xét, đánh giá mức độ trung thực, minh bạch của các thông tin KH khai báo.
Thứ ba, tín dụng ngắn hạn là chủ yếu, nhu cầu vay dài hạn cao, nhưng khó khăn về tài sản đảm bảo. Các DNNVV chủ yếu vay ngắn hạn để đáp ứng cho nhu cầu tài trợ vốn lưu động, như: mua nguyên vật liệu, hàng hóa…về phía DN thời gian luân chuyển vốn nhanh, còn về NHTM có thể nhanh quay vòng vốn. Nhu cầu vay vốn dài hạn để mở rộng quy mô hoặc mua sắm máy móc thiết bị hiện đại để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm…, nhưng tài sản đảm bảo tiền vay theo yêu cầu của ngân hàng gặp khó khăn (hoặc không có hoặc thiếu so với quy định của ngân hàng) nên không được ngân hàng cho vay (vì rủi ro cao). Thứ tư, tỷ lệ cho vay có tài sản bảo đảm thường cao.