CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về tài trợ thương mại quốc tế 1. Khái niệm tài trợ thương mại quốc tế Tài trợ thương mại quốc tế có thể giải thích ở góc độ này hay góc độ khác. Xét ở góc độ tín dụng (Credit) người ta gọi tài trợ TMQT là cho vay xuất nhập khẩu, tín dụng trong ngoại thương nhưng ở góc độ rộng hơn tín dụng như là sự hỗ trợ tài chính (Supporting Finance), người ta lại gọi tài trợ thương mại, tài trợ ngoại thương, tài trợ xuất nhập khẩu.
Thực chất, tài trợ TMQT (International Trade Finance) có ý nghĩa rộng hơn rất nhiều so với tín dụng và hỗ trợ tài chính cộng lại. Để nêu ra một khái niệm đầy đủ về tài trợ TMQT, ta phải kể đến tính tất yếu khách quan của tài trợ TMQT trong quy trình tái sản xuất hàng hóa cho XK và nhận dạng được sự hình thành của tài trợ trong mối tương tác hữu cơ giữa hoạt động TMQT với quy trình tái sản xuất xã hội của một quốc gia. Quy trình tái sản xuất chia làm ba giai đoạn: - T – H công đoạn tiền sản xuất. Nhà sản xuất bỏ vốn để mua sắm thiết bị, nguyên vật liệu và thuê nhân công.
- SX công đoạn sản xuất ra sản phẩm. Công đoạn này tạo ra giá trị mới phải lớn hơn giá trị ở công đoạn tiền sản xuất đầu vào. Để cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại đòi hỏi các doanh nghiệp đạt được tính trội trong công nghệ, quản lý sản xuất, mẫu mã sản phẩm, nhờ đó giá thành hạ, hàng bán được và dễ tiêu thụ trên thị trường. - H’ – T’ công đoạn đưa sản phẩm vào thị trường để bán hay tiêu thụ hàng hóa.
Ta nhận thấy cả ba công đoạn đều đòi hỏi tài trợ tài chính. Tuy nhiên phụ thuộc vào nhu cầu tài trợ hoặc phụ thuộc vào loại hình kinh doanh thương mại mà nhu cầu tài trợ có thể chỉ là một công đoạn hay tất cả các công đoạn. Từ đó có thể đưa ra khái niệm:“Tài trợ thương mại quốc tế là một hiện tượng kinh tế khách quan, gồm tập hợp các chính sách, biện pháp và hình thức hỗ trợ tài chính trực tiếp hay gián tiếp cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế trong một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quy trình tái sản xuất từ đầu 4 tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường thế giới 1 nhằm mục đích sinh lợi”. Các hình thức tài trợ thương mại quốc tế của NHTM Tài trợ TMQT của Ngân hàng thương mại cho các doanh nghiệp bao gồm các hình thức tài trợ sau: Cho vay trực tiếp Là nghiệp vụ cho vay trực tiếp để tài trợ cho các doanh nghiệp thực hiện nghiệp vụ kinh doanh XNK.Đây là nghiệp vụ mang tính truyền thống của NHTM.
Các NHTM cấp tín dụng trực tiếp bằng đồng nội tệ hoặc ngoại tệ cho các doanh nghiệp để hỗ trợ về mặt tài chính, giúp các doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng XNK. Căn cứ vào thời hạn tài trợ: - Tín dụng ngắn hạn: Loại tín dụng thời hạn dưới 1 năm, thường dùng để vay bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chiếm tỷ trọng lớn tại các NHTM. - Tín dụng trung và dài hạn: tùy theo quy định mỗi nước. Tại Việt Nam, tín dụng trung hạn có thời hạn từ 1 đến 5 năm, tín dụng dài hạn từ 5 năm trở lên.
Hình thức này được cung cấp để đầu tư mua sắm tài sản cố định, xây dựng mới, cải tạo mở rộng hiện đại hóa công nghệ. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ “Tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận bất kỳ, cho dù được mô tả hay gọi tên như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của ngân hàng phát 2 hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”. Các loại hình thức gắn với phương thức tài trợ này là: phát hành L/C; cho vay ký quỹ; tài trợ theo hạn mức tín dụng chứng từ; tài trợ thanh toán bộ chứng từ giao hàng; xác nhận L/C; bảo lãnh nhận hàng; cho vay chiết khấu hoặc ứng trước bộ chứng từ hàng xuất. 1 Khoa Ngân hàng – Học viện Ngân hàng - Tài liệu môn học Tài trợ thương mại quốc tế - 8/2013 – trang10 2 International Chamber of Commer, The Uniform Customs & Practise for documentary credit – UCP 600, 2007 Revision.
5 Ngoài ra còn có tài trợ các loại L/C đặc biệt: Revolving L/C (Thư tín dụng tuần hoàn); Back to back L/C (Thư tín dụng giáp lưng); Stand by L/C (Thư tín dụng dự phòng); Transferable L/C (Thư tín dụng chuyển nhượng); Red clause L/C (Thư tín dụng điều khoản đỏ) - UPAS L/C (Thư tín dụng trả chậm có điều khoản trả ngay – hiện nay được sử dụng rất phổ biến tại các NHTM) là “L/C trả chậm mà theo đó người thụ hưởng có thể xuất trình chứng từ để được nhận tiền ngay từ ngân hàng chiết khấu trong khi người 3 mở vẫn thanh toán vào đáo hạn.” - L/C Refinancing - bản chất của L/C là: “Đây là hạn mức tín dụng tuần hoàn do ngân hàng nước ngoài cấp cho ngân hàng phát hành tài trợ thanh toán cho những Thư tín dụng do ngân hàng bên nhà NK phát hành. Ngân hàng nước ngoài sẽ cho ngân hàng phát hành vay tiền để thanh toán cho nhà XK và đến một ngày định trước trong tương lại (tối đa 180 ngày kể từ ngày giải ngân) ngân hàng phát hành sẽ hoàn 4 trả lại số tiền đó cộng với lãi vay cho Ngân hàng nước ngoài” Phương thức nhờ thu “Nhờ thu là phương thức thanh toán, theo đó, nhà XK sau khi giao hàng hay cung ứng dịch vụ, ủy thác cho bên ngân hàng phục vụ mình xuất trình chứng từ thông qua ngân hàng đại lý cho nhà NK để được thanh toán, chấp nhận hối phiếu hay các điều kiện và điều khoản khác”. Các loại hình tài trợ ngoại thương chủ yếu dựa trên phương thức nhờ thu: chấp nhận thanh toán; ủy quyền nhận hàng và ký hậu B/L; D/P kỳ hạn; ứng trước vốn. Hối phiếu “Hối phiếu (hối phiếu đòi nợ) là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng” Tài trợ trên cơ sở hối phiếu có các hình thức: chiết khấu hối phiếu; chấp nhận hối phiếu; bảo lãnh thanh toán hối phiếu.
Bảo lãnh Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cam kết văn bản của TCTD, được thông qua 3 Techcombank - Usance L/C Payable at sight - UPAS L/C(6/2012) 4 Techcombank - L/C Refinancing 6 sự cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với một bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả ngân hàng số tiền đã được trả thay. Các loại bảo lãnh như: - Bảo lãnh dự thầu (Tender guarantee) - Bảo lãnh thực hiện hợp đồng (Performance guarantee) - Bảo lãnh tiền đặt cọc và ứng trước (Advance payment guarantee) - Bảo lãnh thanh toán (Payment guarantee) Bao thanh toán - Bao thanh toán tương đối (Factoring): là việc mua bán các khoản phải thu chưa đến hạn tại một mức chiết khấu nhất định, nó là một công cụ tài chính cung cấp cho người bán 4 dịch vụ cơ bản là: (i) Tài trợ vốn ngắn hạn; (ii) Dịch vụ thu hộ tiền từ người mua; (iii) Dịch vụ quản lý sổ sách kế toán bán hàng; (iv) Dịch vụ đảm bảo rủi ro tín dụng. - Bao thanh toán tuyệt đối (Forfaiting) là dịch vụ tài trợ XK thông qua việc chiết khấu các khoản phải thu hàng XK bằng hối phiếu, kỳ phiếu và các công cụ chuyển nhượng khác với điều kiện miễn truy đòi người bán, tại một mức lãi suất cố định và đến 100% giá trị hợp đồng.
Vai trò của tài trợ TMQT Tài trợ TMQT đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của ngoại thương cũng như đối với sự phát triển kinh tế đất nước. Vai trò đó được thể hiện qua các mặt sau: Đối với nền kinh tế Tài trợ TMQT như một chất xúc tác cho sự phát triển. Chính phủ các quốc gia xem lĩnh vực thương mại là một mũi nhọn kinh tế then chốt trong chiến lược phát triển quốc gia. Cụ thể, tài trợ TMQT giúp cho hoạt động ngoại thương được tiến trình trôi chảy, thuận lợi thông qua các hình thức tài trợ vốn, uy tín ngân hàng cho các bên tham gia, tạo dựng cơ sở tài chính và niềm tin giữa các đối tác để các bên hoàn thành nghĩa vụ của mình.
Hoạt động này còn giúp cho các doanh nghiệp phát triển, tăng hiệu quả 7 sản xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, thực hiện được mục tiêu phát triển kinh tế đất nước. Nó cũng được coi là công cụ hiệu quả để triển khai các chiến lược phát triển kinh tế - chính trị - xã hội của quốc gia. Tài trợ TMQT cũng góp phần đáng kể hỗ trợ cho các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế, cân bằng cán cân thanh toán, góp phần mở rộng mối quan hệ đối ngoại với các quốc gia trên thế giới. Đối với các Doanh nghiệp Tài trợ TMQT tạo tính an toàn cho thương mại quốc tế vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro thông qua các hình thức tài trợ về mặt uy tín như phát hành L/C, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, xác nhận L/C.
Nhờ đó, nó làm tăng tính hiệu quả của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện hợp đồng: thông qua tài trợ của ngân hàng, doanh nghiệp nhận được vốn để thực hiện thương vụ. Việc tài trợ TMQT của ngân hàng cũng giúp cho các doanh nghiệp có vốn để NK máy móc, nguyên vật liệu, thiết bị hiện đại, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, dây chuyền sản xuất chế biến trên cơ sở tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng quy mô, nâng cao chất lượng hàng hóa, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm, mở rộng sản xuất kinh doanh, có thể đứng vững trong cơ chế thị trường và tạo khả năng cạnh tranh trên cả thị trường trong nước và quốc tế.