Chương 1: Lý luận chung về rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng Thương mại. Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Thành. Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Thành. Nguyễn Thúy Hằng - Mã SV: 12A4010245 Lớp NHTMD-K12 Khóa luận tốt nghiệp 3 Học viện Ngân hàng CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƢỢNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng 1. Khái niệm và phân loại rủi ro tín dụng 1. Khái niệm Theo điều 3 thông tư số 02/2013/TT-NHNN, RRTD trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Nói một cách cụ thể hơn, luồng thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời của ngân hàng có thể không được hoàn trả đầy đủ xét cả về mặt số lượng và thời hạn.
RRTD không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động khác như: bảo lãnh, cam kết, tài trợ thương mại, cho vay trên thị trường liên ngân hàng, những chứng khoán có giá (trái phiếu, cổ phiếu,…), trái quyền, Swaps, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ… 1. Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng Rủi ro giao dịch Rủi ro hệ thống Rủi ro lựa chọn Rủi ro đảm bảo Rủi ro nghiệp vụ Rủi ro nội tại Rủi ro tập trung Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro giao dịch và rủi ro hệ thống, trong đó: Rủi ro giao dịch được phân ra ba loại rủi ro: Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình thẩm định và phân tích tín dụng để ngân hàng lựa chọn phương án, đối tượng cho vay hiệu quả. Rủi ro đảm bảo xuất phát từ các tiêu chuẩn đảm bảo, liên quan đến các khoản vay có đảm bảo. Nguyên nhân là do kiểm tra không đầy đủ, không đúng với quy trình nên khi khoản cho vay đến hạn, ngân hàng không thu hồi đủ vốn hoặc do rủi ro xử lý tài sản đảm bảo cho nhiều nghĩa vụ nợ tại nhiều TCTD khác nhau.
Nguyễn Thúy Hằng - Mã SV: 12A4010245 Lớp NHTMD-K12 Khóa luận tốt nghiệp 4 Học viện Ngân hàng Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến quản trị hoạt động cho vay như việc xử lý, xây dựng hệ thống xếp hạng… Rủi ro hệ thống được phân ra hai loại rủi ro: Rủi ro tập trung là mức dư nợ cho vay được dồn cho một số khách hàng lớn, một số ngành kinh tế, một khu vực địa lý hoặc nhóm khách hàng có liên quan. Rủi ro nội tại có hai quan điểm khác nhau: Thứ nhất, rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế. Thứ hai, rủi ro nội tại phụ thuộc vào chiến lược, quan điểm của nhà lãnh đạo Ngân hàng (quyết định khẩu vị rủi ro dựa vào tình hình thị trường, phân tích ngành, phân tích khách hàng, phân tích nguồn lực của bản thân ngân hàng). Cụ thể, nếu quá trình phân tích không đúng, không đầy đủ thì có thể lựa chọn khẩu vị rủi ro sai.
Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng 1. Nguyên nhân khách quan Môi trường kinh tế Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới là nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của người đi vay. Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, hai ngành này vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới nên dễ bị tổn thương. Quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế cũng dẫn đến những hệ quả tất yếu làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường.
Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh giữa các NHTM trong nước và quốc tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên do khách hàng có tiềm lực tài chính lớn đã bị các ngân hàng nước ngoài thu hút bằng các sản phẩm, dịch vụ mới với nhiều tiện ích hơn. Môi trường pháp lý Môi trường pháp lý của Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, các chính sách quản lý kinh tế thường thay đổi đột ngột dẫn đến việc ra đời các văn bản pháp lý Nguyễn Thúy Hằng - Mã SV: 12A4010245 Lớp NHTMD-K12 Khóa luận tốt nghiệp 5 Học viện Ngân hàng chưa phù hợp làm ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh tại Việt Nam, khiến nhiều tổ chức kinh tế không điều chỉnh kịp thời phương án kinh doanh. Ví dụ như vào thời điểm năm 2001, hoạt động kinh doanh xe máy phát triển mạnh với các dòng sản phẩm xe từ Trung Quốc, Hàn Quốc, rất nhiều doanh nghiệp bỏ vốn vào kinh doanh lĩnh vực này. Tuy nhiên sang năm 2002, nhà nước ban hành quy định mỗi người chỉ được đứng tên sở hữu một xe máy, làm cho sức mua bán xe giảm xuống đáng kể.
Điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng kinh doanh của các doanh nghiệp, kéo theo doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ vay ngân hàng. Thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh, dịch bệnh Đây là những rủi ro mà cả khách hàng lẫn ngân hàng đều không lường trước đối với khoản tín dụng của mình, khách hàng gặp khó khăn ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay ngân hàng. Đối với khách hàng có tiềm lực tài chính mạnh thì cũng phải có thời gian để ổn định lại quá trình kinh doanh thì mới có khả năng trả nợ ngân hàng, còn với các khách hàng có tiềm lực yếu thì khoản tín dụng có khả năng rất cao lâm vào tình trạng nợ xấu. Mặc dù loại rủi ro này có thể được hạn chế bằng cách mua bảo hiểm, tuy nhiên khi loại rủi ro này xảy ra, khách hàng và cả ngân hàng cũng phải mất nhiều thời gian để lấy được khoản tiền bảo hiểm từ các công ty bảo hiểm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay ngân hàng.
Nguyên nhân chủ quan Nguyên nhân từ phía khách hàng Khách hàng là cá nhân: Do thu nhập giảm sút; sử dụng vốn sai mục đích; hoàn cảnh gia đình; thiếu năng lực pháp lý… Khách hàng là doanh nghiệp: Do sản xuất kinh doanh yếu kém; sử dụng vốn sai mục đích: xuất phát từ tình hình tài chính yếu kém của doanh nghiệp; mất năng lực pháp lý trong quá trình hoạt động; doanh nghiệp cố tình lừa đảo ngân hàng; do nhà cung cấp không giao hàng, giao hàng chậm hoặc giao hàng hóa dưới tiêu chuẩn; do khách hàng không thanh toán. Nguyên nhân từ phía ngân hàng Do CSTD không hợp lý Chính sách và quy trình cho vay lỏng lẻo: Định hướng tín dụng chưa đạt được tầm chiến lược, chưa triệt để nguyên tắc của thị trường là lợi nhuận và mức rủi ro có Nguyễn Thúy Hằng - Mã SV: 12A4010245 Lớp NHTMD-K12 Khóa luận tốt nghiệp 6 Học viện Ngân hàng thể chấp nhận đươc, bị cuốn theo hội chứng kinh tế, theo phong trào, theo khẩu hiệu phát triển kinh tế, tìm mọi cách cạnh tranh, giành giật thị trường ở các ngành hàng, các nhóm khách hàng mà không hề nhận thấy rằng ngân hàng mình không có sở trường trong lĩnh vực này hoặc chưa chuẩn bị đủ tiềm lực đối với ngành hàng này. Kỹ thuật cấp tín dụng nghèo nàn, chưa hiện đại và đa dạng. Công tác QLRRTD, kiểm soát sau cho vay chưa được chú trọng, mang tính hình thức.
Vấn đề trong thẩm định, giám sát tín dụng Ngân hàng chưa xây dựng được hệ thống dữ liệu về khách hàng một cách đầy đủ, chưa có các kênh kiểm tra chéo thông tin. Việc phân tích tín dụng và quyết định cho vay hầu như chỉ dựa trên các thông tin từ phía khách hàng cung cấp,… Chất lượng đội ngũ cán bộ liên quan đến công tác tín dụng chưa cao. Vấn đề rủi ro đạo đức của CBTD Vấn đề trong áp dụng các công cụ phòng chống RRTD Nguyên nhân từ phía bảo đảm tín dụng: Giá cả biến động; khó định giá; tính khả mại thấp (tài sản chuyên dụng); tranh chấp về pháp lý. Thiệt hại do rủi ro tín dụng 1.
Đối với ngân hàng RRTD làm giảm uy tín của NHTM Nếu một NHTM có tỷ lệ nợ xấu trên tổng nợ lớn, có những thông tin về việc ngân hàng không thu hồi được nợ hoặc ngân hàng đó bị NHNN đưa vào diện kiểm soát đặc biệt thì uy tín của ngân hàng đó bị giảm sút. Lúc đó sẽ không có cá nhân hoặc tổ chức nào đặt quan hệ để sử dụng các dịch vụ của ngân hàng đó nữa vì họ không biết đồng vốn họ bỏ vào ngân hàng có đảm bảo an toàn và sinh lời hay không. RRTD làm giảm khả năng thanh toán của NHTM Để có nguồn vốn đủ cung cấp tín dụng cho khách hàng thì ngân hàng phải huy động từ các tổ chức và dân cư. Nếu RRTD xảy ra, ngân hàng sẽ hạn chế nguồn để thanh toán tiền gửi cho chủ nợ tức là dân cư và các tổ chức kinh tế khác.
RRTD làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Theo quy định của NHNN, tất cả các khoản nợ xấu ngân hàng đều phải trích dự phòng, tỷ lệ trích DPRR tùy theo mức độ nợ xấu và tài sản đảm bảo. Điều này có nghĩa là, đối với các khoản nợ xấu hơn và có tài sản đảm bảo có độ rủi ro cao hơn Nguyễn Thúy Hằng - Mã SV: 12A4010245 Lớp NHTMD-K12 Khóa luận tốt nghiệp 7 Học viện Ngân hàng sẽ bị trích dự phòng cao hơn các khoản nợ ít xấu hơn và có tài sản đảm bảo ít rủi ro hơn. Việc số tiền dự phòng trích càng lớn thì chi phí vốn của ngân hàng càng lớn và lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm.