phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo luận văn đƣợc bố cục gồm 4 chƣơng, cụ thể nhƣ sau : Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực CNTT. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu luận văn. Chƣơng 3: Thực trạng nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực công nghệ thông tin của KBNN Việt Nam. Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực CNTT của KBNN Việt Nam.
4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CNTT 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Nhân lực là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển, là một thƣớc đo chủ yếu sự phát triển của các quốc gia. Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng phát triển nguồn nhân lực. Trong thế kỷ XX, đã có những quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên, nhƣng do phát huy tốt nguồn nhân lực nên đã đạt đƣợc thành tựu phát triển kinh tế – xã hội, hoàn thành công nghiệp hóa và hiện đại hóa chỉ trong vài ba thập kỷ.
Chính vì vậy trong những năm qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau: Luận án Tiến sĩ kinh tế “Giải pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc” của Phan Thanh Tâm (2000), trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân. Tác giả đi sâu phân tích thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực Việt Nam và từ đó đƣa ra đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Luận văn thạc sĩ kinh tế “Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Kho bạc Nhà nƣớc Thái Nguyên” của Nguyễn Ngọc Quang (2014) trƣờng Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh.
Tác giả đi sâu nghiên cứu về thực trạng nguồn nhân lực tại đơn vị và đƣa ra những giải pháp nghiên cứu nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực. Luận văn thạc sĩ kinh tế “Nâng cao chất lƣợng nhân lƣc̣K̃ho bac̣ñha ̀ nƣơc ́ Hà Nội” của Nguyễn Chí Vƣơng (2013), Đại học Kinh tế Quốc dân. Tác giả đi sâu nghiên cứu về thực trạng và đánh giá chung về chất lƣợng nhân lực 5 tại KBNN Hà Nội; từ đó đề ra phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng nhân lực KBNN Hà Nội. Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh “Nâng cao chất lƣợng công tác đào tạo, bồi dƣỡng nguồn nhân lực tại Kho bạc Nhà nƣớc Hải Dƣơng” của Phạm Thị Thu Hƣờng (2015), Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia.
Tác giả đi sâu phân tích thực trạng công tác đào tạo, bồi dƣỡng nguồn nhân lực tại KBNN Hải Dƣơng; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng công tác đào tạo, bồi dƣỡng nguồn nhân lực KBNN Hải Dƣơng. Luận án tiến sĩ “Phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam” của Lê Hồng Điệp (2011), Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả hệ thống hoá và phát triển một số lý thuyết về phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao (CLC) gắn với quá trình hình thành nền kinh tế tri thức (KTTT). Đƣa ra nội dung, các tiêu chí đánh giá và các yếu tố tác động tới phát triển nguồn nhân lực CLC để hình thành nền KTTT.
Đánh giá quá trình phát triển nguồn nhân lực CLC để hình thành nền KTTT ở Việt Nam từ năm 2001 đến nay theo những nội dung và tiêu chí đã xác định. Đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực CLC để hình thành nền KTTT ở Việt Nam. Đề tài nghiên cứu khoa học “Phát triển nguồn nhân lực Kho bạc Nhà nƣớc Việt nam theo mục tiêu: nhanh - ổn định - toàn diện” của Ths. Nguyễn Thị Ngọc Anh (năm 2014), Kho bạc Nhà nƣớc.
Đề tài đã phân tích đƣợc thực trạng nguồn nhân lực KBNN, những hạn chế, yếu kém, thiếu hụt về năng lực của đội ngũ nhân lực và những tồn tại trong việc phát triển nguồn nhân lực trong những năm qua. Từ đó đƣa ra đƣợc hƣớng khắc phục và một số giải pháp mang tính định hƣớng và cấp bách về phát triển nguồn nhân lực KBNN nhằm góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ công chức KBNN đủ về số lƣợng, tốt về chất lƣợng, có cơ cấu cân đối, hợp lý để đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ công 6 tác trong tình hình mới với mục tiêu phát triển nguồn nhân lực KBNN Việt Nam nhanh, ồn định và toàn diện. Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ hiện đại, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động, các tổ chức ngày càng chú ý đến phát triển nguồn nhân lực của mình, nhất là nguồn nhân lực CNTT có trình độ cao. Số lƣợng nhân lực CNTT ngày càng nhiều tuy nhiên chất lƣợng nguồn lực vẫn còn đang thiếu hụt trầm trọng.
Công nghệ luôn thay đổi và ngày càng phát triển nên đòi hỏi chất lƣợng nguồn nhân lực luôn luôn phải nâng cao để đáp ứng đƣợc yêu cầu của công nghệ mới. Những năm qua có rất nhiều công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực CNTT tiêu biểu nhƣ: Luận văn thạc sĩ kinh tế “Đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin cho khu vực hành chính công tỉnh Bình Định” của Trần Quang Triết (2011), Đại học Đà Nẵng. Tác giả đi sâu nghiên cứu những thực trạng và làm sáng tỏ một số nội dung cơ bản liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực CNTT khu vực hành chính công, nội dung quản lý nguồn lực CNTT trong khu vực hành chính công. Từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm đào tạo nguồn nhân lực CNTT khu vực hành chính công.
Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị “Phát triển nguồn nhân lực CNTT ở Hải Phòng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Trần Văn Thắng (2015), Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị “Đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở Việt Nam” của Đỗ Thị Ngọc Ánh (2008), Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Đề tài làm rõ cơ sở lý thuyết về nguồn nhân lực CNTT và đào tạo nguồn nhân lực CNTT. Phân tích thực trạng nhu cầu nhân lực và thực trạng đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam thời gian qua, tập trung trong giai đoạn 1997 - 2007 và những vấn đề đặt ra đối với việc đào tạo nguồn nhân lực CNTT hiện nay.
Từ đó nêu quan điểm phát triển công tác đào 7 tạo nhân lực CNTT từ nay đến năm 2020 và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhân lực CNTT ở nƣớc ta, đáp ứng tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Luận văn thạc sĩ kinh tế “Phát triển nguồn nhân lực CNTT khu vực hành chính công tỉnh Quảng Nam” của Phạm Thị Ngọc Quyên (2011), Đại học Đà Nẵng. Tác giả phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin trong các đơn vị hành chính công trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin nhằm thực hiện mục tiêu ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhà nƣớc, cải cách hành chính và thực hiện chính phủ điện tử ở khu vực hành chính công.
Cho đến nay chƣa có công trình nghiên cứu nào về chất lƣợng nguồn nhân lực CNTT của KBNN một cách toàn diện dƣới góc độ của một ngƣời quản lý mà chỉ có các công trình, đề án nghiên cứu chung về nguồn nhân lực chung của toàn hệ thống. Vì vậy đề tài Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực CNTT của KBNN Việt Nam giúp nhận thức rõ hơn đƣợc tầm quan trọng của chất lƣợng nguồn nhân lực CNTT đối với chiến lƣợc phát triển KBNN trong tƣơng lai. Cơ sở lý luận nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực CNTT của các cơ quan quản lý Nhà nƣớc 1. Nguồn nhân lực công nghệ thông tin 1.
Khái niệm nguồn nhân lực “Nhân lực đƣợc hiểu là thể lực và trí lực của mỗi ngƣời đƣợc sử dụng trong quá trình thực hiện công việc”. Nhân lực có ảnh hƣởng rất lớn đến trình độ quản lý và trình độ sử dụng các yếu tố kinh doanh, nhân lực là yếu tố năng động, tích cực của mọi quá trình sản xuất kinh doanh. Nhân lực trở thành nguồn lực quan trọng nhất của mọi tổ chức, bên 8 cạnh các nguồn lực khác: tài chính, công nghệ, máy móc, kỹ thuật. Nhƣ vậy nhân lực có vai trò rất quan trọng nó là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình lao động sản xuất trong xã hội.
Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con ngƣời trong một tổ chức hay xã hội tức là tất cả các thành viên trong tổ chức sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức. Nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực (NNL) là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con ngƣời cho sự phát triển. Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cƣ có thể phát triển bình thƣờng. Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ đƣợc huy động vào quá trình lao động.
Bất cứ tổ chức nào cũng đƣợc tạo thành bởi các thành viên là con ngƣời hay NNL của nó. Do đó, có thể nói NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới.