Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống chứng cứ của luật tố tụng hình sự, lời khai của người làm chứng là một trong những nguồn chứng cứ lâu đời và phổ biến nhất, góp phần quyết định vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Tại địa bàn huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2019, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thụ lý điều tra hơn 280 vụ án hình sự, triệu tập và lấy lời khai đối với hơn 550 lượt người làm chứng. Thực tiễn cho thấy hơn 70% các vụ án hình sự phức tạp trên địa bàn được giải quyết nhanh chóng, đúng người, đúng tội nhờ nguồn tin có giá trị từ nhân chứng.

Tuy nhiên, trước sự gia tăng và thủ đoạn tinh vi của tội phạm hiện nay, hoạt động lấy lời khai người làm chứng đang đối mặt với nhiều rào cản. Tình trạng nhân chứng sợ bị trả thù, tâm lý e ngại tiếp xúc với cơ quan pháp luật, cùng những bất cập trong quy định về số lần triệu tập và cơ chế bảo vệ nhân chứng đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng chứng cứ. Đề tài luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Quốc Tuấn tập trung giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tại huyện Chơn Thành trong thời gian 5 năm (2014 - 2019). Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá toàn diện thực trạng thu thập, đánh giá lời khai nhân chứng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao tỷ lệ chứng cứ hợp pháp lên trên 95% và kéo giảm tỷ lệ trả hồ sơ điều tra bổ sung do mâu thuẫn lời khai xuống dưới 3%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết chứng cứ và chứng minh trong khoa học luật tố tụng hình sự, kết hợp lý thuyết tâm lý học tư pháp và mô hình tố tụng kết hợp thẩm vấn với tranh tụng. Khung nghiên cứu tập trung làm rõ 4 khái niệm nền tảng: người làm chứng theo Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; hoạt động lấy lời khai người làm chứng theo Điều 186; nguồn chứng cứ theo Điều 87; và giá trị chứng minh của chứng cứ theo Điều 91.

Nghiên cứu cũng kế thừa và phân tích đối sánh quy định tố tụng hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới. Điển hình như quy định về địa điểm, thủ tục hỏi cung nhân chứng tại Điều 187, 188, 189 Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga; thủ tục tuyên thệ trước khi khai báo tại Điều 133 của Thái Lan, Điều 156, 157 của Hàn Quốc, Điều 437 của Cộng hòa Pháp; phân loại nhân chứng buộc tội và gỡ tội tại Điều 145 của Malaysia; hay quyền từ chối khai báo bất lợi cho người thân thích theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự Nhật Bản. Những cơ sở lý thuyết này tạo góc nhìn đa chiều để hoàn thiện quy định pháp lý tại Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ báo cáo tổng kết thực tiễn, sổ sách thụ lý và hồ sơ lưu trữ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chơn Thành, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành và Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2019.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng với cỡ mẫu gồm 250 hồ sơ vụ án hình sự và hơn 480 biên bản lấy lời khai người làm chứng. Phương pháp chọn mẫu này bảo đảm tính đại diện cao trên các nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu, xâm phạm tính mạng sức khỏe và tội phạm ma túy dọc tuyến Quốc lộ 13 và Quốc lộ 14.

Tác giả lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp thống kê định lượng, so sánh đối chiếu văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, năm 2015, Thông tư liên tịch số 03/2018, Thông tư liên tịch số 04/2018, Thông tư liên tịch số 06/2018 và Công văn số 98-NCPL năm 1974 của Tòa án nhân dân tối cao). Lý do lựa chọn hệ phương pháp này nhằm phát hiện chính xác các mâu thuẫn giữa lý thuyết pháp điển hóa và thực tiễn thi hành quyền lực tư pháp tại cơ sở.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực tế tại huyện Chơn Thành giai đoạn 2014 - 2019 chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, về chủ thể thực hiện, Điều tra viên tiến hành 92% tổng số lượt lấy lời khai người làm chứng, trong khi Kiểm sát viên chỉ trực tiếp lấy lời khai chiếm tỷ lệ 8%. Hoạt động của Kiểm sát viên chủ yếu diễn ra ở giai đoạn truy tố khi phát hiện lời khai có mâu thuẫn hoặc có dấu hiệu vi phạm tố tụng.

Thứ hai, về cơ cấu nguồn tin, người làm chứng trực tiếp chiếm 68,5% tổng số nhân chứng được triệu tập, còn lại 31,5% là người làm chứng gián tiếp. Đáng chú ý, có tới 24% lời khai của nhân chứng gián tiếp bị suy giảm độ chính xác do khoảng cách thời gian từ lúc sự việc xảy ra đến khi lấy lời khai kéo dài trên 30 ngày.

Thứ ba, về tâm lý khai báo, có khoảng 18,2% người làm chứng thể hiện thái độ e ngại, ban đầu từ chối khai báo hoặc khai báo cầm chừng vì lo sợ bị đối tượng phạm tội trả thù hoặc sợ mất thời gian đi lại nhiều lần.

Thứ tư, việc triển khai thiết bị ghi âm, ghi hình có âm thanh theo Thông tư liên tịch số 03/2018 đã nâng tỷ lệ lời khai được chuẩn hóa pháp lý từ 81% lên 94,5%, giúp triệt tiêu 85% các khiếu nại liên quan đến ép cung, mớm cung.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của các tồn tại trên xuất phát từ vị trí địa lý đặc thù của Chơn Thành là địa bàn trung du, cửa ngõ kinh tế trọng điểm kết nối vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên với diện tích 38.357,8 ha và dân số hơn 74.158 người. Tốc độ công nghiệp hóa nhanh khiến tỷ lệ dân cư biến động tạm trú chiếm hơn 20%, gây áp lực lớn cho việc xác minh, triệu tập nhân chứng. So với các nghiên cứu tại các đô thị lớn, tỷ lệ nhân chứng vắng mặt tại phiên tòa ở Chơn Thành cao hơn khoảng 12% do người làm chứng chuyển đổi nơi cư trú hoặc đi làm ăn xa.

Bên cạnh đó, quy định tại Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa có cơ chế chi tiết về nguồn kinh phí và biện pháp bảo vệ thân nhân người làm chứng khi bị đe dọa. Các dữ liệu này có thể được trình bày trực quan qua biểu đồ cột thể hiện sự chuyển biến của chất lượng lấy lời khai theo từng năm và bảng phân loại nhân chứng theo độ tuổi (người dưới 18 tuổi chiếm 6,5%, từ 18 đến 45 tuổi chiếm 78%, trên 45 tuổi chiếm 15,5%). Việc chuẩn hóa mô hình phân tích giúp các cơ quan tiến hành tố tụng nhận diện điểm nghẽn để tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả lấy lời khai người làm chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng quy định rõ: thông tin từ lời khai của người làm chứng chỉ được coi là chứng cứ khi họ nói rõ lý do biết được tình tiết đó và phải phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần hoàn thiện nội dung này trong giai đoạn lập pháp đến năm 2025 nhằm nâng độ chuẩn xác của chứng cứ lên 98%.

Thứ hai, ban hành quy chế liên ngành khẩn cấp giữa Bộ Công an và Viện kiểm sát nhân dân tối cao về bảo vệ người làm chứng. Cơ chế này cần quy định rõ thời hạn triển khai phương án bảo vệ nơi ở, nơi làm việc của nhân chứng trong vòng 24 giờ kể từ khi phát hiện dấu hiệu đe dọa, hướng tới giảm 90% rủi ro bị trả thù giai đoạn 2024 - 2026.

Thứ ba, nâng cấp cơ sở vật chất phòng lấy lời khai tại Công an huyện Chơn Thành và các địa phương tương đồng. Công an tỉnh Bình Phước cần trang bị đồng bộ 100% hệ thống camera ghi âm, ghi hình có âm thanh chuẩn kỹ thuật, đồng thời thiết lập phòng lấy lời khai thân thiện cho người dưới 18 tuổi theo đúng Điều 421 và Thông tư liên tịch số 06/2018 trong lộ trình 12 tháng.

Thứ tư, đổi mới chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ tâm lý tư pháp cho Điều tra viên và Kiểm sát viên. Các trường đào tạo tư pháp cần tổ chức ít nhất 02 khóa tập huấn chuyên sâu hàng năm nhằm nâng cao kỹ năng hỏi cung, loại bỏ việc đặt câu hỏi mớm cung và giảm 50% thời gian lấy lời khai không cần thiết.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang tính ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt phù hợp với 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, Điều tra viên và Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra: Nắm vững kỹ thuật lập kế hoạch lấy lời khai, tiếp cận tâm lý nhân chứng, phân loại nguồn tin trực tiếp - gián tiếp và tuân thủ quy trình tố tụng theo Điều 186 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ hai, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các cấp: Nâng cao kỹ năng kiểm sát biên bản lấy lời khai, nhận diện các sai phạm tố tụng và vận dụng quyền trực tiếp lấy lời khai nhân chứng phục vụ phê chuẩn các quyết định khởi tố, truy tố đúng quy định pháp luật.

Thứ ba, Luật sư và người bào chữa: Khai thác phương pháp kiểm tra tính hợp pháp, tính khách quan của lời khai nhân chứng tại phiên tòa, đối chiếu mâu thuẫn lời khai để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ hiệu quả.

Thứ tư, Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự: Sử dụng làm tài liệu tham khảo với 3 chương lý luận sâu sắc, hệ thống dẫn chứng luật so sánh quốc tế và bộ số liệu thực tiễn phong phú qua 5 năm khảo sát.

Câu hỏi thường gặp

Người làm chứng có quyền từ chối khai báo trước cơ quan điều tra không? Theo điểm b khoản 4 Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người làm chứng có nghĩa vụ trình bày trung thực những gì mình biết. Hành vi cố ý trốn tránh hoặc từ chối khai báo không có lý do chính đáng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 383 Bộ luật Hình sự với mức phạt tù lên đến 01 năm.

Thủ tục lấy lời khai người làm chứng dưới 18 tuổi có những quy định bắt buộc nào? Căn cứ Điều 421 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Thông tư liên tịch số 06/2018, cơ quan tiến hành tố tụng phải thông báo trước cho người đại diện hợp pháp tham dự. Thời gian lấy lời khai không quá 02 lần trong 01 ngày và mỗi lần không quá 02 giờ, thực hiện tại không gian thân thiện.

Kiểm sát viên trực tiếp lấy lời khai của người làm chứng trong những trường hợp nào? Khoản 5 Điều 186 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định Kiểm sát viên lấy lời khai khi việc lấy lời khai của Điều tra viên không khách quan, có vi phạm pháp luật, hoặc khi cần kiểm tra chứng cứ để phê chuẩn quyết định tố tụng hay quyết định truy tố. Thực tế tại Chơn Thành đã có 22 trường hợp Kiểm sát viên trực tiếp thực hiện quyền này.

Lời khai của người làm chứng gián tiếp có được chấp nhận làm chứng cứ không? Lời khai gián tiếp là nguồn chứng cứ hợp pháp nếu người làm chứng trình bày rõ lý do và nguồn gốc biết được thông tin theo Điều 91. Dữ liệu thực tiễn cho thấy 31,5% lời khai ban đầu là gián tiếp, giữ vai trò định hướng điều tra truy tìm thủ phạm và thu giữ vật chứng.

Hành vi khai báo gian dối của người làm chứng bị xử lý như thế nào theo pháp luật hiện hành? Theo Điều 382 Bộ luật Hình sự năm 2015, người làm chứng cố ý khai gian dối dẫn đến kết án oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Tại địa bàn nghiên cứu, cơ quan chức năng đã xử lý nghiêm 03 trường hợp khai báo sai sự thật nhằm che giấu hành vi của đồng phạm.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về người làm chứng, nguồn chứng cứ và trình tự lấy lời khai theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • Phân tích thực chứng 250 hồ sơ vụ án hình sự giai đoạn 2014 - 2019 tại huyện Chơn Thành, chỉ rõ các điểm nghẽn về tâm lý nhân chứng và tỷ lệ lấy lời khai của các chủ thể tố tụng.
  • So sánh kinh nghiệm lập pháp tiến bộ của nhiều quốc gia trên thế giới như Nga, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản để rút ra bài học cho Việt Nam.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá về hoàn thiện điều luật, cơ chế bảo vệ nhân chứng, trang thiết bị kỹ thuật số và đào tạo nhân lực tư pháp giai đoạn 2024 - 2030.
  • Cung cấp nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn giá trị cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và nghiên cứu pháp lý.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Quốc Tuấn đóng góp thiết thực vào việc hoàn thiện chế định chứng cứ trong tố tụng hình sự. Quý độc giả, chuyên gia pháp lý và học viên có thể khai thác các luận điểm trong công trình này để ứng dụng vào công tác tư pháp và nghiên cứu chuyên sâu ngay hôm nay.