Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG LẤY LỜI KHAI CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Một số vấn đề chung và khái niệm 1. Một số vấn đề chung Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thực hiện chủ trương cải cách tư pháp, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của công tác điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm quyền con người. Trong đó, quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự [12, tr.
Bên cạnh đó, yêu cầu đặt ra đối với các cơ quan tiến hành tố tụng là phải phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội. Quá trình này được diễn ra liên tục, kể từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc vụ án, bao gồm các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật (kiểm tra xác minh nguồn tin, khởi tố vụ án hình sự, tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.) của cơ quan có thẩm quyền, với sự tham gia tố tụng của những người có liên quan đến vụ án, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội cà của công dân nhằm góp phần vào việc giải quyết vụ án hình sự. Khi một sự kiện pháp lý xảy ra nếu chứa đựng hậu quả hoặc hành vi hay vừa chứa đựng hậu quả lại vừa chứa đựng hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm cụ thể thì sự kiện pháp lý đó được gọi là vụ việc mang tính hình sự và các cơ quan có thẩm quyền tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự phải có trách nhiệm điều tra, xác minh làm rõ xem có khởi tố vụ án hay không. Vụ án hình sự là vụ việc mang tính hình sự, có dấu hiệu của tội phạm được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án để tiến hành 7 điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đã được quy định ở Bộ luật tố tụng hình sự.
Khái niệm tố tụng hình sự có thể hiểu là quá trình giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật. Tố tụng hình sự gồm toàn bộ hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra), người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Cán bộ được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra), người tham gia tố tụng (Bị can, Bị cáo, Người bào chữa, Người bị hại, nguyên đơn dân sự, Bị đơn dân sự.) của cá nhân, các cơ quan khác của Nhà nước và các tổ chức xã hội nhằm góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của luật tố tụng hình sự. Giải quyết vụ án hình sự là một quá trình liên tục, gồm nhiều bước khác nhau, mỗi bước trong quá trình tố tụng thể hiện một hướng nhất định, thực hiện một nhiệm vụ riêng, góp phần thực hiện nhiệm vụ của tố tụng hình sự và thường được tiến hành bởi những chủ thể nhất định. Kết quả của các bước tố tụng thường được thể hiện bằng các văn bản tố tụng đặc thù, các bước đó được gọi là các giai đoạn tố tụng.
Căn cứ vào mục đích, chủ thể tiến hành, văn bản tố tụng đặc thù và kết quả của tố tụng thì tố tụng hình sự Việt Nam được chia làm bốn giai đoạn gồm: Giai đoạn khởi tố, giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử. - Giai đoạn khởi tố bắt đầu từ khi có tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đến khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án hình sự - Giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi cơ quan điều tra ra Bản kết luận điều tra chuyển hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát để đề nghị truy tố và được Viện kiểm sát vào sổ thụ lý hoặc kết thúc khi Cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định đình chỉ vụ án của Cơ quan điều tra hoặc Khi cơ 8 quan có thẩm quyền hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án không có căn cứ và trái pháp luật. - Giai đoạn truy tố bắt đầu Viện kiểm sát tiếp nhận hồ sơ do cơ quan điều tra chuyển đến và kết thúc khi có Quyết định truy tố (Cáo trạng) đề nghị truy tố, chuyển hồ sơ đến Tòa án đề nghị xét xử và Tòa án thụ lý hồ sơ hoặc kết thúc khi có Quyết định đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát. - Giai đoạn xét xử bắt đầu khi Tòa án thụ lý hồ sơ vụ án và kết thúc khi có bản án có hiệu lực pháp luật hoặc khi có Quyết định đình chỉ vụ án của Tòa án Lấy lời khai của người làm chứng là một trong những biện pháp điều tra được quy định tại Điều 186 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được thực hiện trước và sau khi khởi tố vụ án hình sự.
Khái niệm, đặc điểm của người làm chứng Theo từ điển tiếng Việt, thuật ngữ người làm chứng dùng để chỉ những người chứng kiến một sự việc, hiện tượng đã xảy ra và có thể mô tả lại cho người khác về sự việc đó [31, tr. Còn trong dân gian, thuật ngữ người làm chứng thường được gọi là “nhân chứng”, mà theo đó thì “nhân chứng” là người bằng mắt thấy, tai nghe hoặc do những nguồn tin khác cung cấp mà biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án, được cơ quan điều tra lấy lời khai, được Tòa án, Viện kiểm sát triệu tập đến làm chứng trước và tại phiên tòa. Làm chứng là một nghĩa vụ của công dân. Nhân chứng có nhiệm vụ có mặt khi được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập và phải khai báo đúng sự thật, nếu gian dối trong khai báo hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng có thể bị xử lý theo pháp luật.
Theo quan điểm của các nhà khoa học Đại học Luật Hà Nội thì: “Người làm chứng là người biết các tình tiết có liên quan đến vụ án và được các cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập để khai báo về những sự việc cần xác minh trong vụ án” [21, tr. Theo cách hiểu này thì người làm chứng là người biết được các thông tin, tình tiết liên quan đến vụ án đang điều tra nên họ được các cơ quan tiến hành tố tụng (gồm cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) triệu tập họ để họ khai báo về 9 những gì họ biết liên quan vụ án phục vụ điều tra làm rõ vụ án để xử lý trước pháp luật. Còn theo quan điểm của các nhà khoa học thuộc Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thì: “Người làm chứng là người biết được tình tiết có liên quan đến vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập tham gia tố tụng” [22, tr. Theo quan điểm của các nhà khoa học thuộc Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thì người làm chứng là người biết về các thông tin, tình tiết liên quan đến vụ án, được các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập họ tham gia vào các hoạt động tố tụng, có thể là tham gia vào các hoạt động điều tra (lấy lời khai người làm chứng, thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận dạng.) hay tham gia vào quá trình xét xử của Tòa án.
Theo quy định tại Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng Người làm chứng tham gia vào quá trình tố tụng theo sự triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc tự nguyện đến cơ quan tiến hành tố tụng khai báo về các tình tiết mà mình biết, được các cơ quan tiến hành tố tụng xác định tư cách là người làm chứng trong vụ án hình sự. Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới như Liên bang Nga, Vương quốc Thái Lan. cho thấy, Bộ luật Tố tụng hình sự của các nước này, đều quy định về trình tự, thủ tục lấy lời khai của người làm chứng. Trong Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga, địa điểm và thời gian hỏi cung người làm chứng được quy định tại Điều 187, thủ tục triệu tập người làm chứng để hỏi cung được quy định tại Điều 188, những quy định chung khi tiến hành hỏi cung được quy định tại Điều 189.
Điều 189 quy định: “Trước khi hỏi cung, dự thẩm viên thực hiện những yêu cầu được quy định tại khoản 4 Điều 164 Bộ luật này. Nếu dự thẩm viên nghi ngờ về việc người bị hỏi cung không sử dụng thành thạo ngôn ngữ được dùng trong tố tụng, thì dự thẩm viên giải thích cho người được hỏi cung trình bày nguyện vọng được khai báo bằng ngôn ngữ nào. Nghiêm cấm 10 đưa ra các câu hỏi có tính chất mớm cung. dự thẩm viên được tự do lựa chọn chiến thuật hỏi cung”.
Bộ luật Tố tụng hình sự Vương quốc Thái Lan quy định về trình tự, thủ tục hỏi cung người làm chứng, người bị hại và những người khác tại Điều 133: “Trong quá trình thẩm tra, điều tra viên có thể yêu cầu người đó tuyên thệ hoặc khẳng định sự trung thực của lời khai trước khi khai báo, đồng thời điều tra viên phải tuân theo mọi quy định về chứng cứ, lời khai của Bộ luật này. Không điều tra viên nào được phép gợi ý, khuyến khích hay dùng nhục hình để ngăn cản người bị lấy lời khai khai báo theo nguyện vọng của họ” [30, tr. Bộ luật Tố tụng hình sự Hàn Quốc quy định về lời thề của người làm chứng tại Điều 156 và Điều 157.