Chương 1 Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ lao động trực tiếp trong doanh nghiệp Chương 2 Thực trạng chất lượng và hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ lao động trực tiếp tại Công ty TNHH sản xuất đồ gia dụng Sunhouse Chương 3 Giải pháp nâng cao chất lượng đối với đội ngũ lao động trực tiếp tại Công ty TNHH sản xuất đồ gia dụng Sunhouse 11 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ N NG CAO CHẤT LƢ NG ĐỘI NG LAO ĐỘNG TRỰC TI P TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân lực và nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1.1 Nhân lực Nhân lực là nguồn cá thể của mỗi con ngƣời, nói đến nhân lực là nói đến con ngƣời. Đối với quan điểm kinh tế chính trị, nhân lực đề cập đến lực lƣợng và năng lực những ngƣời lao động sản xuất (bao gồm cả lao động thể lực và lao động trí tuệ) cũng tức là sức lao động.
Từ điển Wikipedia định ngh a: Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con ngƣời trong một t chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp Theo quan điểm của Mác, sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh tần tồn tại trong cơ thể sống của con ngƣời và đƣợc ngƣời đó đem ra vận dụng. Mỗi khi con ngƣời sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó thì phải vận dụng t ng hòa thể lực và trí lực. Sức lao động chỉ là khả năng lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực [9, tr. Với định ngh a ngắn gọn hơn, TS Đỗ Minh Cƣơng và PGS.
Nguyễn Thị Doan đƣa ra khái niệm “Nhân lực là những cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động sản xuất” [4, tr. Với các quan điểm trên, có thể thấy nhân lực là khái niệm gắn liền với hoạt động, là những tiềm năng bên trong cơ thể sống của một con ngƣời. Có thể khái niệm nhân lực theo một cách chung nhất nhƣ sau: Nhân lực là cá 12 nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất được huy động vào quá trình lao động. Nhân lực lao động trực tiếp là những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động trực tiếp thực hiện các công đoạn sản xuất sản phẩm, là t ng thể các yếu tố về thể chất đƣợc huy động vào quá trình lao động sản xuất ra sản phẩm cho doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực trƣớc hết đƣợc hiểu là toàn bộ những ngƣời lao động đang có khả năng tham gia vào quá trình lao động xã hội và các thế hệ nối tiếp sẽ phục vụ xã hội. Khi tham gia vào các quá trình kinh tế xã hội con ngƣời đóng góp vai trò chủ động, sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình đó hƣớng nó tới mục tiêu nhất định. Con ngƣời đƣợc coi nhƣ một thứ tài nguyên đặc biệt, là loại vốn quý giá nhất. Tùy theo cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đƣa ra một số khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực; Các chỉ số phát triển thế giới (World Development Indicators) (2000) của Liên Hiệp Quốc định ngh a: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ với sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [13, Tr.
T chức lao động Quốc tế (ILO): Nguồn nhân lực của mỗi quốc gia là toàn bộ những ngƣời trong độ tu i lao động có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo hai ngh a: theo ngh a rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn nhân lực cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có thể phát triển bình thƣờng (không bị khiếm khuyết hoặc dị tật bẩm sinh). Theo ngh a hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao, là t ng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ huy động vào quá trình lao động [6].
13 Xét trên tầm v mô của nền kinh tế, theo PGS. Trần Xuân Cầu và PGS. Mai Quốc Chánh cho rằng “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [3, tr. Xét về góc độ vi mô, trong từng doanh nghiệp, theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân thì “Bất cứ doanh nghiệp nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con người hay nguồn lực của nó Do đó, có thể nói nguồn nhân lực của một doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn nhân lực của mỗi con người mà nguồn nhân lực này gồm có thể lực và trí lực” [5, tr.
Các quan điểm trên khác nhau về việc xác định quy mô nguồn nhân lực, song đều có quan điểm chung nhất đó là nói lên khả năng lao động của xã hội, là t ng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lƣợng lao động xã hội của một quốc gia, đó là kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử đƣợc vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tƣơng lai của đất nƣớc. Nhân lực với ý ngh a đầy đủ của nó bao gồm ba yếu tố: thể lực, trí lực và tâm lực. Ba yếu tố đó có quan hệ biện chứng với nhau, trong đó, trí lực giữ vai trò quyết định nhƣng thể lực và tâm lực cũng đóng vai trò quan trọng nhƣ điều kiện cần thiết không thể thiếu đối với sự phát triển của nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực đƣợc hiểu là nơi phát sinh, nguồn cung cấp sức của con ngƣời trên đầy đủ các phƣơng diện cho lao động sản xuất và quản lý.
Chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp Nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số lƣợng lao động mà nó còn phải bao gồm t ng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng làm việc, thái độ, phong cách làm việc. Tất các yếu tố này đều thuộc về chất lƣợng nguồn nhân lực. Thuật ngữ chất lƣợng nhân lực gắn liền với sự hoàn thiện, nâng cao chất lƣợng con ngƣời, đƣợc thể hiện ở việc nâng cao chất lƣợng giáo dục quốc dân, trình độ kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ, sức khỏe và thể lực cũng nhƣ ý thức, phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực. Con ngƣời muốn tồn tại và phát triển cần phải đƣợc thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu về sản phẩm vật chất và tinh thần.
Muốn sản xuất, con ngƣời phải có cơ sở nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, nguồn lực công nghệ… và hợp thành các nguồn lực cho sự phát triển, trong đó nguồn lực của con ngƣời là yếu tố cách mạng nhất và động nhất. Nguồn lực con ngƣời không những chỉ là đối tƣợng mà còn là động lực của sự phát triển. Một quốc gia có lực lƣợng lao động đông đảo nhƣng nếu phân bố không hợp lý giữa các ngành, các vùng, cơ cấu đào tạo không phù hợp nhu cầu sử dụng, thì lực lƣợng lao động đông đảo đó sẽ không những không trở thành nguồn nhân lực để phát triển mà nhiều khi còn là gánh nặng cản trở sự phát triển. Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng lao động, những ngƣời lao động phải đƣợc đào tạo phân b và sử dụng theo cơ cấu hợp lý, đảm bảo hiệu quả cao nhất trong sử dụng Phát triển nguồn nhân lực là t ng thể các hình thức, phƣơng pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển, nhất là trong bối cảnh tình hình về dân số, lao động và kinh tế hiện nay.
Lê Thị Thanh Mai định ngh a chất lƣợng nguồn nhân lực: “Chất lượng nguồn nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao 15 động với yêu cầu công việc của doanh nghiệp và đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động” [12, tr. Hay chất lƣợng nguồn nhân lực có thể đƣợc hiểu là: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực” [12, tr. Nguồn nhân lực không chỉ xem xét dƣới góc độ số lƣợng mà còn ở khía cạnh chất lƣợng. Chất lƣợng nguồn nhân lực là một khái niệm t ng hợp, bao gồm những nét đặc trƣng về trạng thái thể lực (sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần), trí lực (trình độ văn hóa, chuyên môn, kỹ thuật), tâm lực (phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc, sinh hoạt của ngƣời lao động).
Trong luận văn này, tác giả thống nhất sử dụng khái niệm chất lƣợng nguồn nhân lực theo Giáo trình Nguồn nhân lực, Đại học Lao động Xã hội (2011): “Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp về những người thuộc nguồn nhân lực được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của người lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kĩ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc,.), phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của nguồn nhân lực và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân” [8, tr9]. Thể lực là tình trạng sức khỏe của con ngƣời, biểu hiện ở sự phát triển bình thƣờng, có khả năng lao động. Thể lực tốt thể hiện ở sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ, dẻo dai của cơ bắp trong công việc.