phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lƣợng GDNN. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015-2019. Chƣơng 3: Một số nhóm giải pháp nâng cao chất lƣợng GDNN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hƣớng đến năm 2030. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP 1.
Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục: Theo từ điển Tiếng Việt, “Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tƣợng, làm cho đối tƣợng ấy dần dần có đƣợc những phẩm chất và năng lực nhƣ yêu cầu đề ra” [27]. - Nghề nghiệp: Là khái niệm chung dành để chỉ những công việc (nghề) sẽ gắn với bản thân của mỗi ngƣời trong hầu hết phần lớn khoảng thời gian quan trọng trong đời mỗi con ngƣời. - Giáo dục nghề nghiệp: Theo Khoản 1, Điều 3, Luật Giáo dục nghề nghiệp: “Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chƣơng trình đào tạo nghề nghiệp khác cho ngƣời lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, đƣợc thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thƣờng xuyên” [25].
Nhƣ vậy, giáo dục nghề nghiệp là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống thông qua giảng dạy, đào tạo hoặc tự nghiên cứu nhằm trang bị cho con ngƣời những kiến thức, kỹ năng và thói quen của nghề ở trình độ nhất định, để có thể làm việc ổn định, lâu dài thông qua nghề đƣợc đào tạo. Đào tạo nghề nghiệp - Đào tạo: Theo từ điển Tiếng Việt (1997): “Đào tạo là làm cho con ngƣời trở thành ngƣời có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” [27]. 10 - Đào tạo nghề nghiệp: Theo Khoản 2, Điều 3, Luật giáo dục nghề nghiệp "Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp" [25]. Nhƣ vậy, đào tạo nghề nghiệp là trang bị cho ngƣời lao động (ngƣời học nghề) những hiểu biết về chuyên môn kỹ thuật, những kỹ năng, kỹ xảo, năng lực hành nghề tƣơng ứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, sức khỏe, có trách nhiệm nghề nghiệp, có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trƣờng làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; Bảo đảm nâng cao năng suất, chất lƣợng LĐ, tạo điều kiện cho ngƣời học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nƣớc.
Chất lượng giáo dục nghề nghiệp Theo Từ điển tiếng Việt "Chất lƣợng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác" [27]. Chất lƣợng GDNN là chất lƣợng của quá trình đào tạo nghề nghiệp, là mức độ đáp ứng mục tiêu do cơ sở GDNN đề ra, đảm bảo các yêu cầu về giáo dục và đào tạo, là mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn của nghề nghiệp theo yêu cầu của xã hội về khối lƣợng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và ý thức kỷ luật, tác phong của ngƣời lao động sau đào tạo nghề nghiệp thể hiện thông qua sự hài lòng của ngƣời học sau đào tạo, sự hài lòng của ngƣời sử dụng LĐ, doanh nghiệp và thị trƣờng LĐ đối với sản phẩm đào tạo, đáp ứng mục tiêu của Nhà nƣớc và xã hội. Chất lƣợng GDNN đƣợc đánh giá qua các yếu tố: Mục tiêu, nội dung, chƣơng trình đào tạo, đội ngũ nhà giáo, tổ chức và quản lý quá trình đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo, nghiên cứu khoa học… 11 1. Nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp Là quá trình cải tiến các yếu tố ảnh hƣởng cũng nhƣ các khâu trong quá trình GDNN nhằm thu đƣợc hiệu quả cao nhất.
Nâng cao chất lƣợng GDNN đặt ra cho các cơ sở GDNN yêu cầu phải đổi mới liên tục trong suốt quá trình đào tạo. Nâng cao chất lƣợng GDNN sẽ giúp các cơ sở GDNN thiết lập các chuẩn mực trong hoạt động đào tạo nghề nghiệp, nhằm giúp cho sản phẩm đào tạo của của mình phù hợp hơn với yêu cầu của ngƣời học nghề và thị trƣờng LĐ. Khi xây dựng hệ thống chất lƣợng, các cơ sở GDNN cần xuất phát từ những đặc điểm đặc thù của mình, hệ thống chất lƣợng cần đƣợc tính toán trên cả phƣơng diện chất lƣợng sản phẩm đào tạo và quản lý chất lƣợng. Lợi ích của việc nâng cao chất lƣợng GDNN: Thứ nhất, chất lƣợng đào tạo cao sẽ tạo ra sức hấp dẫn, thu hút đối với ngƣời học, ngƣời sử dụng lao động; Thứ hai, nâng cao chất lƣợng đào tạo làm tăng uy tín, thƣơng hiệu của cơ sở GDNN và nâng cao khả năng cạnh tranh của cơ sở GDNN.
Nội dung, hình thức đào tạo và các cấp độ đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp 1. Nội dung giáo dục nghề nghiệp * Trang bị kiến thức nghề nghiệp: Hệ thống kiến thức nghề nghiệp đƣợc trang bị trong hệ thống GDNN, gồm: (1) Kiến thức đại cƣơng. (2) Kiến thức chuyên môn về nghề nghiệp là kiến thức lý thuyết và thực hành để thực hiện một nghề. (3) Kiến thức bổ trợ cho chuyên môn nghề nghiệp: Theo quy định trong GDNN, thời gian đào tạo, trang bị kiến thức nghề nghiệp (học lý thuyết) không quá 30% tổng thời gian đào tạo của khóa học.
* Rèn kỹ năng nghề nghiệp: Kỹ năng nghề nghiệp phụ thuộc vào kiến thức đã đƣợc trang bị. Kỹ năng chính là mức độ thuần thục khi thực hiện công việc trên nền tảng kiến thức đã có. Kỹ năng nghề nghiệp đƣợc thể hiện ở các yếu tố: 12 - Trình độ đào tạo nghề nghiệp: Đƣợc biểu hiện qua năng lực hành nghề (năng lực thực hiện). Năng lực hành nghề chính là sự vận dụng các kiến thức, kỹ năng và thái độ để thực hiện các nhiệm vụ của nghề nghiệp.
Năng lực hành nghề đƣợc hình thành và phát triển trên cơ sở năng lực chuyên môn, năng lực phƣơng pháp và năng lực xã hội (năng lực giao tiếp). - Năng lực chuyên môn: Là khả năng và sự sẵn sàng sử dụng các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ nghề nghiệp cụ thể, có thể làm, thu thập thông tin và xử lý linh hoạt, sáng tạo các tình huống diễn ra trong thực tiễn. Năng lực chuyên môn trong thực tế thƣờng thể hiện ở trình độ lành nghề và kinh nghiệm của ngƣời LĐ. Ví dụ: Ngƣời LĐ khi có sự am hiểu sâu, rộng về kết cấu máy móc thiết bị, đặc tính về nguyên nhiên vật liệu, dụng cụ thì họ có khả năng cao trong việc ngăn ngừa các sự cố và tai nạn LĐ xảy ra, mặt khác kinh nghiệm LĐ càng cao thì độ thuần thục trong thực hiện các thao tác LĐ càng cao, qua đó năng suất LĐ sẽ cao.
- Năng lực phƣơng pháp: Là khả năng và sự sẵn sàng sử dụng các kiến thức, kỹ năng đã tiếp thu đƣợc sao cho thích hợp với hoàn cảnh mới trong môi trƣờng cụ thể. Có khả năng xử lý thông tin trong quá trình LĐ và học tập, đƣa ra các giải pháp thích ứng để giải quyết các nhiệm vụ mới xuất hiện trong công việc. Có khả năng làm chủ thực tiễn để giải quyết các vấn đề nghề nghiệp và xã hội. - Năng lực xã hội: Là khả năng và sự sẵn sàng sử dụng phƣơng pháp học tập, đề ra chiến lƣợc, chiến thuật trong việc tự đào tạo và bồi dƣỡng, đồng thời có khả năng phối hợp với đồng nghiệp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, biết tổ chức phối hợp để làm việc theo tổ nhóm.
* Rèn ý thức, đạo đức nghề nghiệp, tác phong làm việc: Trong đào tạo nghề nghiệp, việc trang bị và rèn luyện cho ngƣời học có đƣợc “Phẩm chất lao động mới”, đó là tính kỷ luật, đạo đức nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, tính 13 thích ứng, sáng tạo, năng động, niềm tin đối với công việc và tổ chức đóng vai trò hết sức quan trọng trong hình thành nguồn nhân lực chất lƣợng cao. Hình thức đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp Theo Quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp, đào tạo nghề nghiệp có hai hình thức: * Đào tạo chính quy: Là hình thức đào tạo theo các khóa học tập trung toàn bộ thời gian do cơ sở GDNN thực hiện để đào tạo các trình độ SC, TC và CĐ. Đào tạo chính quy thƣờng đƣợc chia ra làm hai giai đoạn: Giai đoạn học tập cơ bản và giai đoạn học tập chuyên môn. Giai đoạn học tập cơ bản chiếm từ 20% đến 30% nội dung giảng dạy và tƣơng đối ổn định; Giai đoạn học tập chuyên môn (chiếm từ 70% đến 80% nội dung giảng dạy), ngƣời học đƣợc trang bị những kiến thức chuyên sâu về kiến thức và rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo, giúp họ nắm vững đƣợc các chế độ làm việc, phƣơng pháp LĐ tiên tiến của ngƣời có năng suất LĐ cao nhất trong sản xuất để hoàn thành mức sản lƣợng, mức thời gian sáng tạo, có tinh thần và ý thức tập thể, chấp hành đúng kỷ luật LĐ, biết tổ chức tốt nơi làm việc.
* Đào tạo thường xuyên: Là hình thức đào tạo vừa làm vừa học, học từ xa hoặc tự học có hƣớng dẫn đối với các chƣơng trình đào tạo trình độ SC, TC, CĐ và các chƣơng trình đào tạo nghề nghiệp khác, đƣợc thực hiện linh hoạt về chƣơng trình, thời gian, phƣơng pháp, địa điểm đào tạo, phù hợp với yêu cầu của ngƣời học. Đào tạo thƣờng xuyên thƣờng đƣợc tổ chức đào tạo theo mô-đun, tín chỉ; Đào tạo bồi dƣỡng nâng cao kỹ năng nghề; Đào tạo kèm cặp, truyền nghề. Đào tạo thƣờng xuyên còn có hai hình thức: Đào tạo tại nơi làm việc và đào tạo các lớp cạnh doanh nghiệp. - Đào tạo tại nơi làm việc: Là đào tạo trực tiếp, chủ yếu là thực hành ngay trong quá trình sản xuất, do doanh nghiệp tổ chức.
Đào tạo tại nơi làm việc đƣợc tiến hành dƣới hai hình thức: Cá nhân và tổ đội sản xuất.