Nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp tại Quảng Ninh - Luận văn Thạc sĩ

Nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp Quảng Ninh: Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động. Cơ hội việc làm rộng mở.

Chuyên ngành

Quản trị nhân lực

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

146
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG HÌNH, BẢNG

MỞ ĐẦU

1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

1.1. Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Giáo dục nghề nghiệp

1.1.2. Đào tạo nghề nghiệp

1.1.3. Chất lƣợng giáo dục nghề nghiệp

1.2. Nâng cao chất lƣợng giáo dục nghề nghiệp

1.3. Nội dung giáo dục nghề nghiệp

1.4. Hình thức đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp

1.5. Các cấp độ đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp

1.6. Các tiêu chí đánh giá chất lƣợng giáo dục nghề nghiệp

1.7. Các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng giáo dục nghề nghiệp

1.7.1. Yếu tố đầu vào (công tác tuyển sinh)

1.7.2. Nội dung, chƣơng trình đào tạo, phƣơng pháp giảng dạy và tổ chức, quản lý đào tạo

1.7.3. Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp và giáo viên

1.7.4. Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học

1.7.5. Kiểm định chất lƣợng giáo dục nghề nghiệp

1.7.6. Sự phối hợp giữa doanh nghiệp và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

1.7.7. Quản lý Nhà nƣớc về giáo dục nghề nghiệp

1.7.8. Tài chính cho đào tạo

2. THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2015 - 2019

2.1. Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh

2.1.1. Về kinh tế

2.1.2. Về dân số

2.1.3. Về lực lƣợng lao động

2.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

2.2.1. Công tác tuyển sinh (yếu tố đầu vào)

2.2.2. Nội dung, chƣơng trình, giáo trình đào tạo

2.2.3. Đội ngũ cán bộ quản lý GDNN và giáo viên

2.2.4. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học

2.2.5. Chất lƣợng kiểm định, đánh giá chất lƣợng giáo dục nghề nghiệp

2.2.6. Sự phối hợp giữa doanh nghiệp và các cơ sở GDNN

2.2.7. Quản lý Nhà nƣớc về giáo dục nghề nghiệp

2.2.8. Tài chính cho đào tạo nghề nghiệp

2.3. Thực trạng chất lƣợng giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015 - 2019

2.3.1. Mạng lƣới cơ sở giáo dục nghề nghiệp

2.3.2. Quy mô đào tạo và cơ cấu ngành nghề đào tạo

2.3.3. Kết quả chất lƣợng đào tạo

2.3.4. Kết quả đào tạo gắn với giải quyết việc làm sau đào tạo

2.4. Đánh giá chung

2.4.1. Những kết quả đạt đƣợc

2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân

3. MỘT SỐ NHÓM GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH

3.1. Một số mục tiêu, định hƣớng về phát triển nhân lực của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030

3.1.1. Quan điểm phát triển nhân lực tỉnh Quảng Ninh

3.1.2. Mục tiêu tổng quát

3.1.3. Một số chỉ tiêu chủ yếu

3.2. Cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu và những định hƣớng trong xây dựng nhóm giải pháp nâng cao chất lƣợng giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2030

3.2.1. Bối cảnh chung

3.2.2. Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức

3.3. Một số nhóm giải pháp chủ yếu

3.3.1. Nhóm giải pháp tăng cƣờng công tác tuyên truyền, định hƣớng nghề nghiệp, phân luồng sau THCS và nâng cao chất lƣợng tuyển sinh

3.3.2. Nhóm giải pháp nâng cao chất lƣợng của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và xây dựng quảng bá thƣơng hiệu

3.3.3. Nhóm giải pháp phát huy vai trò và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nƣớc về giáo dục nghề nghiệp

3.3.4. Nhóm giải pháp tăng cƣờng phối hợp với các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác tuyển sinh và đào tạo nghề nghiệp, giải quyết việc làm sau đào tạo

3.3.4.1. Đối với Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội
3.3.4.2. Đối với UBND tỉnh Quảng Ninh
3.3.4.3. Đối với các Sở, ban, ngành
3.3.4.4. Đối với UBND các huyện, thị xã, thành phố
3.3.4.5. Đối với Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Quảng Ninh
3.3.4.6. Đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Toàn cảnh chất lượng giáo dục nghề nghiệp Quảng Ninh 2024

Quảng Ninh, với vị thế là một cực tăng trưởng kinh tế phía Bắc, đang đối mặt với yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong bối cảnh đó, giáo dục nghề nghiệp (GDNN) đóng vai trò xương sống, cung cấp lực lượng lao động có kỹ năng trực tiếp cho các ngành kinh tế mũi nhọn như du lịch, dịch vụ, công nghiệp và xây dựng. Giai đoạn 2015-2019 đã chứng kiến những bước tiến đáng kể trong công tác đào tạo nghề nghiệp tại tỉnh. Mạng lưới cơ sở GDNN được mở rộng, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 65% (năm 2015) lên 80% (năm 2019), một con số ấn tượng so với mặt bằng chung cả nước. Tuy nhiên, để đáp ứng chiến lược phát triển thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, việc nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp Quảng Ninh không chỉ dừng lại ở số lượng mà phải tập trung vào chiều sâu, đảm bảo đầu ra đáp ứng chính xác nhu cầu của thị trường lao động trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Bài viết này sẽ phân tích sâu thực trạng, chỉ ra những thách thức cốt lõi và đề xuất các giải pháp chiến lược, dựa trên cơ sở luận cứ khoa học và dữ liệu thực tiễn, nhằm tạo ra một thế hệ lao động lành nghề, góp phần vào sự phát triển bền vững của tỉnh.

1.1. Tổng quan về mạng lưới cơ sở đào tạo nghề nghiệp tại tỉnh

Tính đến cuối năm 2019, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 42 cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở có tham gia hoạt động GDNN. Mạng lưới này được phân bổ rộng khắp các huyện, thị xã, thành phố, tạo điều kiện thuận lợi cho người học tiếp cận các chương trình đào tạo. Trong số đó, có 32 cơ sở công lập và 10 cơ sở thuộc doanh nghiệp, cho thấy sự đa dạng hóa về hình thức sở hữu và vận hành. Các cơ sở này cung cấp chương trình đào tạo ở ba cấp trình độ chính: Cao đẳng, Trung cấp và Sơ cấp. Sự phát triển về số lượng cơ sở đã góp phần quan trọng vào việc tăng quy mô đào tạo, đáp ứng một phần nhu cầu học nghề của người dân và cung cấp nhân lực cho các doanh nghiệp địa phương. Việc quy hoạch mạng lưới các cơ sở GDNN được thực hiện theo định hướng gắn với các khu kinh tế, khu công nghiệp trọng điểm của tỉnh, nhằm tối ưu hóa sự kết nối giữa đào tạo và sử dụng lao động, đặc biệt là trong các ngành khai khoáng, du lịch, và dịch vụ cảng biển.

1.2. Vai trò của GDNN đối với phát triển kinh tế xã hội Quảng Ninh

Giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò quyết định trong việc hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, một trong ba khâu đột phá chiến lược của tỉnh Quảng Ninh. Mục tiêu của tỉnh là chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, dựa trên tri thức và công nghệ. Để thực hiện mục tiêu này, GDNN có nhiệm vụ đào tạo ra đội ngũ lao động không chỉ giỏi tay nghề mà còn có tác phong công nghiệp, kỹ năng mềm và khả năng thích ứng với công nghệ mới. Theo báo cáo, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ của tỉnh đã tăng từ 36,6% (năm 2015) lên 45% (năm 2019), cao hơn đáng kể so với mức trung bình cả nước (khoảng 24%). Kết quả này cho thấy sự đóng góp trực tiếp của hệ thống GDNN vào việc nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế tỉnh. Lực lượng lao động lành nghề là yếu tố thu hút đầu tư, thúc đẩy các ngành dịch vụ, công nghiệp công nghệ cao phát triển, và là nền tảng cho sự tăng trưởng bền vững.

II. Top 4 thách thức kìm hãm chất lượng giáo dục nghề nghiệp

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, công tác nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp Quảng Ninh vẫn đối mặt với không ít rào cản mang tính hệ thống. Những thách thức này nếu không được giải quyết triệt để sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho tỉnh. Thách thức lớn nhất đến từ chất lượng đầu vào và công tác phân luồng học sinh sau THCS còn hạn chế, dẫn đến cơ cấu đào tạo mất cân đối. Bên cạnh đó, sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp chưa thực sự sâu sắc và hiệu quả, khiến chương trình đào tạo đôi khi chưa bắt kịp yêu cầu thực tiễn từ thị trường lao động. Nội dung chương trình, giáo trình và cơ sở vật chất tại một số cơ sở vẫn chưa được cập nhật để tương thích với công nghệ sản xuất hiện đại. Cuối cùng, năng lực của một bộ phận đội ngũ nhà giáo còn hạn chế về ngoại ngữ, công nghệ mới và kinh nghiệm thực tế tại doanh nghiệp. Việc nhận diện và phân tích đúng các thách thức này là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất để xây dựng các giải pháp cải thiện phù hợp và hiệu quả.

2.1. Hạn chế trong công tác tuyển sinh và phân luồng học sinh

Một trong những rào cản lớn nhất là chất lượng đầu vào. Công tác phân luồng học sinh sau THCS vào học nghề vẫn đạt tỷ lệ thấp. Tâm lý xã hội vẫn còn nặng về bằng cấp đại học, khiến nhiều học sinh có năng lực phù hợp với học nghề lại chọn con đường khác. Dữ liệu giai đoạn 2015-2019 cho thấy cơ cấu bậc đào tạo còn mất cân đối nghiêm trọng. Đào tạo trình độ Sơ cấp và dưới 3 tháng chiếm tới 85,26% tổng số học viên, trong khi đào tạo trình độ Trung cấp và Cao đẳng, vốn cung cấp lao động kỹ thuật cao, chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (14,74%). Điều này dẫn đến tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, mất cân đối trong cơ cấu lao động và chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Công tác tuyển sinh gặp khó khăn trong việc thu hút học sinh giỏi, làm ảnh hưởng đến chất lượng chung của cả quá trình đào tạo và đầu ra.

2.2. Bất cập về chương trình đào tạo và cơ sở vật chất thiết bị

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, chương trình đào tạo tại một số cơ sở GDNN vẫn còn cứng nhắc, chậm cập nhật so với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và quy trình sản xuất trong doanh nghiệp. Luận văn của tác giả Trần Thanh Ngân Hà chỉ ra rằng, “Sự tham gia của chuyên gia từ doanh nghiệp trong xây dựng chương trình đào tạo còn ít”. Điều này làm giảm tính thực tiễn của nội dung giảng dạy. Về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ở một số nơi đã lạc hậu, không tương xứng với máy móc, công nghệ mà doanh nghiệp đang sử dụng. Việc thiếu hụt thiết bị thực hành hiện đại khiến học sinh, sinh viên không có điều kiện rèn luyện kỹ năng trên các công nghệ mới, dẫn đến bỡ ngỡ khi bước vào môi trường làm việc thực tế và doanh nghiệp phải tốn thêm chi phí đào tạo lại.

2.3. Chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý còn hạn chế

Đội ngũ nhà giáo là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, tính đến năm 2019, vẫn còn một bộ phận không nhỏ giảng viên, giáo viên chưa đạt chuẩn theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp. Cụ thể, 35,31% (590 người) chưa đạt chuẩn, trong đó có 26,39% chưa đạt chuẩn về ngoại ngữ, 33,51% chưa đạt chuẩn về tin học và 20,59% chưa đạt chuẩn về kỹ năng nghề. Hạn chế về ngoại ngữ và tin học cản trở khả năng tiếp cận tài liệu mới, công nghệ tiên tiến trên thế giới. Bên cạnh đó, kinh nghiệm thực tiễn tại doanh nghiệp của nhiều giáo viên còn mỏng, chủ yếu dựa trên lý thuyết, gây khó khăn trong việc truyền đạt các kiến thức và kỹ năng sát với thực tế sản xuất. Năng lực của cán bộ quản lý tại một số cơ sở GDNN cũng cần được bồi dưỡng thêm để nâng cao hiệu quả điều hành và hoạch định chiến lược phát triển.

III. Bí quyết nâng cao chất lượng đào tạo từ gốc rễ cơ sở GDNN

Để giải quyết các thách thức, việc cải tổ phải bắt đầu từ chính nội tại của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Đây là nhóm giải pháp nền tảng, tạo ra sự thay đổi bền vững và toàn diện cho hệ thống đào tạo nghề nghiệp. Trọng tâm của nhóm giải pháp này là đổi mới căn bản chương trình đào tạo theo hướng linh hoạt, dựa trên chuẩn đầu ra và gắn chặt với nhu cầu của doanh nghiệp. Song song đó, việc đầu tư chuẩn hóa và hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học là điều kiện tiên quyết để sinh viên được thực hành trên công nghệ thực. Yếu tố con người luôn là cốt lõi, do đó, cần có một chiến lược bài bản để phát triển đội ngũ nhà giáo cả về chuyên môn, kỹ năng sư phạm lẫn kinh nghiệm thực tiễn. Khi ba trụ cột này được củng cố, chất lượng đào tạo sẽ được cải thiện từ gốc, góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp Quảng Ninh một cách thực chất và hiệu quả.

3.1. Đổi mới chương trình giáo trình theo định hướng thị trường

Giải pháp cốt lõi là phải chuyển đổi tư duy xây dựng chương trình đào tạo từ “cung cấp những gì nhà trường có” sang “đào tạo những gì thị trường cần”. Các cơ sở GDNN cần chủ động thực hiện khảo sát, dự báo nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh theo từng ngành nghề, từng giai đoạn. Chương trình đào tạo phải được thiết kế theo dạng module, tín chỉ để tăng tính linh hoạt, cho phép người học dễ dàng cập nhật kiến thức hoặc học liên thông. Cần tăng cường sự tham gia của các chuyên gia, cán bộ kỹ thuật từ doanh nghiệp vào quá trình thẩm định và xây dựng chương trình. Đặc biệt, phải tăng thời lượng thực hành, thực tập tại doanh nghiệp, đảm bảo chiếm ít nhất 70% tổng thời gian khóa học đối với một số ngành nghề kỹ thuật. Giáo trình cần được rà soát, cập nhật định kỳ để tích hợp các kiến thức về công nghệ mới, quản trị sản xuất hiện đại và kỹ năng mềm cần thiết.

3.2. Hiện đại hóa cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học

Chất lượng đào tạo kỹ năng nghề phụ thuộc trực tiếp vào cơ sở vật chất và trang thiết bị. Tỉnh Quảng Ninh cần có cơ chế, chính sách ưu tiên đầu tư, huy động các nguồn lực xã hội hóa để hiện đại hóa hệ thống phòng học, xưởng thực hành, phòng thí nghiệm tại các cơ sở GDNN trọng điểm. Thiết bị đào tạo phải tương đồng với công nghệ đang được sử dụng phổ biến tại các doanh nghiệp hàng đầu trong tỉnh, đặc biệt là trong các lĩnh vực như tự động hóa, du lịch - khách sạn, logistics, công nghệ thông tin. Việc đầu tư không chỉ dừng ở mua sắm mà còn phải đi kèm với kế hoạch bảo trì, nâng cấp và đào tạo sử dụng hiệu quả cho cả giảng viên và học viên. Một môi trường học tập và thực hành hiện đại sẽ tạo hứng thú cho người học và đảm bảo họ có đủ năng lực làm việc ngay sau khi tốt nghiệp mà không cần doanh nghiệp đào tạo lại.

3.3. Phát triển toàn diện đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý

Để nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để chuẩn hóa đội ngũ theo quy định, đặc biệt là về ngoại ngữ, tin học và chứng chỉ kỹ năng nghề. Cần có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho giáo viên đi thực tập, làm việc định kỳ tại các doanh nghiệp để cập nhật kiến thức, công nghệ thực tế. Đồng thời, tỉnh cần có chính sách thu hút các chuyên gia, kỹ sư giỏi từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy. Đối với cán bộ quản lý, cần tổ chức các khóa bồi dưỡng về quản trị nhà trường hiện đại, kỹ năng xây dựng chiến lược, phát triển thương hiệu và quản lý tài chính. Một đội ngũ mạnh về chuyên môn, giàu kinh nghiệm thực tiễn và tâm huyết với nghề sẽ là động lực chính để nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp.

IV. Mô hình gắn kết doanh nghiệp và giáo dục nghề nghiệp Quảng Ninh

Sự hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp là chìa khóa để giải quyết bài toán “đầu ra” cho giáo dục nghề nghiệp. Một mô hình liên kết hiệu quả sẽ đảm bảo chương trình đào tạo luôn bắt kịp thực tiễn, sinh viên có môi trường thực tập chất lượng và cơ hội việc làm rộng mở sau khi tốt nghiệp. Để nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp Quảng Ninh, cần xây dựng một cơ chế hợp tác ba bên: Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp, trong đó Nhà nước đóng vai trò kiến tạo chính sách, khuyến khích và hỗ trợ. Doanh nghiệp không chỉ là “khách hàng” sử dụng lao động mà còn là “đối tác” tham gia sâu vào toàn bộ quá trình đào tạo. Các cơ sở GDNN cần chủ động, sáng tạo trong việc tìm kiếm và xây dựng các mối quan hệ hợp tác bền vững. Mô hình này sẽ tạo ra một vòng tuần hoàn tích cực: doanh nghiệp có được nguồn nhân lực chất lượng cao, nhà trường nâng cao uy tín và hiệu quả đào tạo, người học được đảm bảo việc làm, góp phần vào sự phát triển chung của kinh tế - xã hội tỉnh.

4.1. Xây dựng cơ chế hợp tác chiến lược giữa nhà trường và doanh nghiệp

Cần vượt qua hình thức hợp tác mang tính hình thức, thời vụ. Hợp tác doanh nghiệp phải được xây dựng trên cơ sở chiến lược, dài hạn và đôi bên cùng có lợi. Các cơ sở GDNN và doanh nghiệp cần ký kết các thỏa thuận hợp tác toàn diện, bao gồm các nội dung cụ thể: doanh nghiệp tham gia xây dựng và thẩm định chương trình đào tạo; tiếp nhận sinh viên thực tập và cử chuyên gia hướng dẫn; ưu tiên tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp; tài trợ học bổng và đầu tư trang thiết bị cho nhà trường. Về phía doanh nghiệp, việc tham gia vào quá trình đào tạo giúp họ chủ động định hình chất lượng nguồn nhân lực tương lai, giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo lại. Nhà nước cần có chính sách ưu đãi về thuế, đất đai cho các doanh nghiệp tham gia tích cực vào hoạt động GDNN, coi đây là một phần trách nhiệm xã hội và cũng là khoản đầu tư cho chính sự phát triển của doanh nghiệp.

4.2. Triển khai các mô hình đào tạo kép và đào tạo tại doanh nghiệp

Mô hình đào tạo kép (dual training), nơi người học dành phần lớn thời gian học tập và thực hành tại doanh nghiệp, cần được nhân rộng. Mô hình này đã chứng tỏ hiệu quả vượt trội ở nhiều quốc gia phát triển. Người học được tiếp xúc sớm với môi trường làm việc chuyên nghiệp, được trả lương trong quá trình thực tập, và gần như chắc chắn có việc làm sau khi tốt nghiệp. Ngoài ra, cần đẩy mạnh hình thức “đặt hàng” đào tạo từ doanh nghiệp. Khi có nhu cầu về nhân lực cho một vị trí, công nghệ mới, doanh nghiệp có thể hợp tác với cơ sở GDNN để mở các lớp đào tạo chuyên biệt. Điều này đảm bảo 100% học viên sau khi tốt nghiệp đáp ứng đúng yêu cầu công việc. Việc triển khai các mô hình này đòi hỏi sự linh hoạt trong quản lý của nhà trường và sự cam kết mạnh mẽ từ phía doanh nghiệp để đảm bảo chất lượng và quyền lợi cho người học.

4.3. Nâng cao vai trò của hiệp hội doanh nghiệp trong công tác đào tạo

Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Quảng Ninh có thể đóng vai trò là cầu nối quan trọng, tập hợp nhu cầu nhân lực từ các doanh nghiệp thành viên và truyền đạt tới hệ thống GDNN. Hiệp hội có thể chủ trì tổ chức các diễn đàn, hội thảo kết nối cung - cầu lao động, giúp các cơ sở GDNN nắm bắt xu hướng thị trường lao động. Đồng thời, hiệp hội có thể tham gia vào việc xây dựng các bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề cấp tỉnh, làm cơ sở cho việc thiết kế chương trình đào tạo và đánh giá chất lượng đầu ra. Việc phát huy vai trò của tổ chức đại diện cho giới chủ sử dụng lao động sẽ giúp các hoạt động liên kết trở nên quy mô, bài bản hơn, tránh tình trạng hợp tác manh mún, nhỏ lẻ giữa từng trường và từng doanh nghiệp, từ đó tạo ra tác động lớn hơn đến việc nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp trên toàn tỉnh.

V. Hướng đi từ quản lý Nhà nước nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp

Vai trò của Quản lý Nhà nước là vô cùng quan trọng, đóng vai trò định hướng, kiến tạo, giám sát và hỗ trợ toàn bộ hệ thống. Để nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp Quảng Ninh, các cơ quan quản lý như Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cần thực hiện hiệu quả chức năng của mình, từ việc hoàn thiện quy hoạch mạng lưới, ban hành các cơ chế chính sách khuyến khích, đến tăng cường công tác kiểm định chất lượng. Một môi trường chính sách thuận lợi, minh bạch và có tính dự báo cao sẽ tạo động lực cho các cơ sở GDNN đổi mới, sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh. Bên cạnh đó, công tác truyền thông, định hướng nghề nghiệp cần được đẩy mạnh để thay đổi nhận thức của xã hội, thu hút người học vào hệ thống GDNN. Sự chỉ đạo quyết liệt và đồng bộ từ cấp tỉnh đến địa phương sẽ là đòn bẩy giúp hệ thống đào tạo nghề nghiệp của Quảng Ninh phát triển lên một tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.

5.1. Tăng cường tuyên truyền định hướng nghề nghiệp và phân luồng

Cơ quan Quản lý Nhà nước cần chủ trì, phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, các trường THCS, THPT và các cơ quan truyền thông để đẩy mạnh công tác tuyên truyền về vai trò của học nghề. Cần thay đổi nhận thức của phụ huynh và học sinh, nhấn mạnh rằng học nghề là con đường lập nghiệp vững chắc, tạo ra thu nhập cao và cơ hội phát triển không thua kém con đường đại học. Các hoạt động tư vấn, định hướng nghề nghiệp cần được tổ chức thường xuyên, chuyên nghiệp, cung cấp thông tin đầy đủ về nhu cầu thị trường lao động, các ngành nghề đang khát nhân lực và mô hình đào tạo tại các cơ sở GDNN uy tín. Triển khai hiệu quả Đề án “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông” sẽ giúp tăng tỷ lệ học sinh sau THCS lựa chọn học nghề, cải thiện chất lượng đầu vào và giải quyết tình trạng mất cân đối trong cơ cấu đào tạo.

5.2. Hoàn thiện cơ chế chính sách và phân bổ nguồn lực tài chính

UBND tỉnh và các sở, ban, ngành liên quan cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển GDNN. Cần có chính sách đặc thù để thu hút đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP) vào lĩnh vực này, đặc biệt là việc xây dựng các trường nghề chất lượng cao theo chuẩn quốc tế. Về tài chính cho đào tạo, cần đảm bảo phân bổ ngân sách nhà nước hợp lý, ưu tiên cho các ngành nghề trọng điểm và các cơ sở có thành tích đào tạo tốt, gắn với giải quyết việc làm. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế tự chủ tài chính mạnh mẽ hơn cho các trường công lập, cho phép họ đa dạng hóa nguồn thu để tái đầu tư, nâng cao chất lượng. Các chính sách hỗ trợ học phí, học bổng cho người học thuộc diện chính sách, người học các ngành nghề nặng nhọc, độc hại cũng cần được duy trì và mở rộng.

5.3. Đẩy mạnh công tác kiểm định và đảm bảo chất lượng đào tạo

Chất lượng phải được đo lường và giám sát. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cần tăng cường vai trò trong công tác kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Quy trình tự đánh giá chất lượng tại các cơ sở GDNN cần được thực hiện nghiêm túc, định kỳ theo quy định tại Thông tư 28/2017/TT-BLĐTBXH. Kết quả kiểm định phải được công khai, minh bạch để xã hội, người học và doanh nghiệp giám sát. Những cơ sở không đạt yêu cầu cần có lộ trình khắc phục hoặc xem xét giải thể, sáp nhập. Việc siết chặt quản lý chất lượng sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, buộc các trường phải không ngừng cải tiến để tồn tại và phát triển, qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp Quảng Ninh một cách bền vững. Xây dựng và công bố xếp hạng các cơ sở GDNN dựa trên các tiêu chí rõ ràng cũng là một giải pháp cần được xem xét.

VI. Tầm nhìn 2030 cho giáo dục nghề nghiệp Quảng Ninh bứt phá

Hướng tới năm 2030, giáo dục nghề nghiệp Quảng Ninh đặt mục tiêu phát triển theo hướng hiện đại, linh hoạt, hiệu quả và hội nhập quốc tế. Tầm nhìn này đòi hỏi một sự chuyển đổi mạnh mẽ, không chỉ về quy mô mà chủ yếu là về chất lượng và cơ cấu đào tạo. Hệ thống GDNN của tỉnh sẽ trở thành một hệ thống mở, liên thông, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành kinh tế xanh, kinh tế số và dịch vụ cao cấp. Để hiện thực hóa tầm nhìn này, cần có sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực của các cơ sở GDNN, sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp và sự thay đổi trong nhận thức của toàn xã hội. Nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp Quảng Ninh không còn là nhiệm vụ riêng của ngành lao động mà là một chiến lược trọng tâm, quyết định đến tương lai phát triển bền vững và thịnh vượng của tỉnh trong thập kỷ tới.

6.1. Xây dựng một số trường nghề chất lượng cao đạt chuẩn khu vực

Một trong những mục tiêu đột phá là tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng ít nhất 2-3 cơ sở giáo dục nghề nghiệp trọng điểm trở thành trường chất lượng cao, đạt chuẩn kiểm định của khu vực ASEAN và quốc tế. Các trường này sẽ tiên phong trong việc áp dụng các mô hình quản trị tiên tiến, đổi mới chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế, và đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu. Điển hình có thể là Trường CĐ Việt - Hàn Quảng Ninh và Trường ĐH Hạ Long (với các ngành nghề đào tạo cụ thể). Việc có những “ngọn hải đăng” về chất lượng sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy các cơ sở khác cùng phấn đấu, nâng cao mặt bằng chung của toàn hệ thống đào tạo nghề nghiệp tỉnh, đồng thời thu hút sinh viên giỏi không chỉ trong tỉnh mà còn từ các địa phương khác.

6.2. Chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ trong hoạt động đào tạo

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi giáo dục nghề nghiệp phải đi đầu trong chuyển đổi số. Đến năm 2030, các cơ sở GDNN cần ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào quản lý, giảng dạy và học tập. Điều này bao gồm việc xây dựng hệ thống quản lý học tập trực tuyến (LMS), phát triển kho học liệu số, bài giảng điện tử, và ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) trong đào tạo các kỹ năng nghề phức tạp, nguy hiểm. Chuyển đổi số không chỉ giúp nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo mà còn giúp người học có thể học tập mọi lúc, mọi nơi, hình thành năng lực tự học suốt đời. Đây là xu thế tất yếu để nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp Quảng Ninh trong bối cảnh mới.

6.3. Tăng cường hợp tác quốc tế và định hướng xuất khẩu lao động

Hội nhập quốc tế là con đường tất yếu để nâng tầm GDNN. Tầm nhìn đến năm 2030, các cơ sở GDNN tại Quảng Ninh cần chủ động tìm kiếm, thiết lập quan hệ hợp tác với các tổ chức, trường nghề uy tín trên thế giới (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Úc) để trao đổi giáo viên, sinh viên, chuyển giao chương trình đào tạo và công nhận văn bằng. Hợp tác quốc tế giúp tiếp cận những phương pháp và công nghệ đào tạo tiên tiến nhất. Song song đó, đào tạo nghề nghiệp cần gắn với định hướng xuất khẩu lao động có tay nghề cao. Việc đào tạo theo đơn đặt hàng của các thị trường lao động khó tính sẽ vừa giúp giải quyết việc làm với thu nhập cao cho người lao động, vừa là thước đo khẳng định chất lượng và thương hiệu của GDNN Quảng Ninh trên trường quốc tế.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lƣợng GDNN. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015-2019. Chƣơng 3: Một số nhóm giải pháp nâng cao chất lƣợng GDNN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, định hƣớng đến năm 2030. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP 1.

Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục: Theo từ điển Tiếng Việt, “Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tƣợng, làm cho đối tƣợng ấy dần dần có đƣợc những phẩm chất và năng lực nhƣ yêu cầu đề ra” [27]. - Nghề nghiệp: Là khái niệm chung dành để chỉ những công việc (nghề) sẽ gắn với bản thân của mỗi ngƣời trong hầu hết phần lớn khoảng thời gian quan trọng trong đời mỗi con ngƣời. - Giáo dục nghề nghiệp: Theo Khoản 1, Điều 3, Luật Giáo dục nghề nghiệp: “Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chƣơng trình đào tạo nghề nghiệp khác cho ngƣời lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, đƣợc thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thƣờng xuyên” [25].

Nhƣ vậy, giáo dục nghề nghiệp là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống thông qua giảng dạy, đào tạo hoặc tự nghiên cứu nhằm trang bị cho con ngƣời những kiến thức, kỹ năng và thói quen của nghề ở trình độ nhất định, để có thể làm việc ổn định, lâu dài thông qua nghề đƣợc đào tạo. Đào tạo nghề nghiệp - Đào tạo: Theo từ điển Tiếng Việt (1997): “Đào tạo là làm cho con ngƣời trở thành ngƣời có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” [27]. 10 - Đào tạo nghề nghiệp: Theo Khoản 2, Điều 3, Luật giáo dục nghề nghiệp "Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp" [25]. Nhƣ vậy, đào tạo nghề nghiệp là trang bị cho ngƣời lao động (ngƣời học nghề) những hiểu biết về chuyên môn kỹ thuật, những kỹ năng, kỹ xảo, năng lực hành nghề tƣơng ứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, sức khỏe, có trách nhiệm nghề nghiệp, có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trƣờng làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; Bảo đảm nâng cao năng suất, chất lƣợng LĐ, tạo điều kiện cho ngƣời học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nƣớc.

Chất lượng giáo dục nghề nghiệp Theo Từ điển tiếng Việt "Chất lƣợng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác" [27]. Chất lƣợng GDNN là chất lƣợng của quá trình đào tạo nghề nghiệp, là mức độ đáp ứng mục tiêu do cơ sở GDNN đề ra, đảm bảo các yêu cầu về giáo dục và đào tạo, là mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn của nghề nghiệp theo yêu cầu của xã hội về khối lƣợng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và ý thức kỷ luật, tác phong của ngƣời lao động sau đào tạo nghề nghiệp thể hiện thông qua sự hài lòng của ngƣời học sau đào tạo, sự hài lòng của ngƣời sử dụng LĐ, doanh nghiệp và thị trƣờng LĐ đối với sản phẩm đào tạo, đáp ứng mục tiêu của Nhà nƣớc và xã hội. Chất lƣợng GDNN đƣợc đánh giá qua các yếu tố: Mục tiêu, nội dung, chƣơng trình đào tạo, đội ngũ nhà giáo, tổ chức và quản lý quá trình đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo, nghiên cứu khoa học… 11 1. Nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp Là quá trình cải tiến các yếu tố ảnh hƣởng cũng nhƣ các khâu trong quá trình GDNN nhằm thu đƣợc hiệu quả cao nhất.

Nâng cao chất lƣợng GDNN đặt ra cho các cơ sở GDNN yêu cầu phải đổi mới liên tục trong suốt quá trình đào tạo. Nâng cao chất lƣợng GDNN sẽ giúp các cơ sở GDNN thiết lập các chuẩn mực trong hoạt động đào tạo nghề nghiệp, nhằm giúp cho sản phẩm đào tạo của của mình phù hợp hơn với yêu cầu của ngƣời học nghề và thị trƣờng LĐ. Khi xây dựng hệ thống chất lƣợng, các cơ sở GDNN cần xuất phát từ những đặc điểm đặc thù của mình, hệ thống chất lƣợng cần đƣợc tính toán trên cả phƣơng diện chất lƣợng sản phẩm đào tạo và quản lý chất lƣợng. Lợi ích của việc nâng cao chất lƣợng GDNN: Thứ nhất, chất lƣợng đào tạo cao sẽ tạo ra sức hấp dẫn, thu hút đối với ngƣời học, ngƣời sử dụng lao động; Thứ hai, nâng cao chất lƣợng đào tạo làm tăng uy tín, thƣơng hiệu của cơ sở GDNN và nâng cao khả năng cạnh tranh của cơ sở GDNN.

Nội dung, hình thức đào tạo và các cấp độ đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp 1. Nội dung giáo dục nghề nghiệp * Trang bị kiến thức nghề nghiệp: Hệ thống kiến thức nghề nghiệp đƣợc trang bị trong hệ thống GDNN, gồm: (1) Kiến thức đại cƣơng. (2) Kiến thức chuyên môn về nghề nghiệp là kiến thức lý thuyết và thực hành để thực hiện một nghề. (3) Kiến thức bổ trợ cho chuyên môn nghề nghiệp: Theo quy định trong GDNN, thời gian đào tạo, trang bị kiến thức nghề nghiệp (học lý thuyết) không quá 30% tổng thời gian đào tạo của khóa học.

* Rèn kỹ năng nghề nghiệp: Kỹ năng nghề nghiệp phụ thuộc vào kiến thức đã đƣợc trang bị. Kỹ năng chính là mức độ thuần thục khi thực hiện công việc trên nền tảng kiến thức đã có. Kỹ năng nghề nghiệp đƣợc thể hiện ở các yếu tố: 12 - Trình độ đào tạo nghề nghiệp: Đƣợc biểu hiện qua năng lực hành nghề (năng lực thực hiện). Năng lực hành nghề chính là sự vận dụng các kiến thức, kỹ năng và thái độ để thực hiện các nhiệm vụ của nghề nghiệp.

Năng lực hành nghề đƣợc hình thành và phát triển trên cơ sở năng lực chuyên môn, năng lực phƣơng pháp và năng lực xã hội (năng lực giao tiếp). - Năng lực chuyên môn: Là khả năng và sự sẵn sàng sử dụng các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ nghề nghiệp cụ thể, có thể làm, thu thập thông tin và xử lý linh hoạt, sáng tạo các tình huống diễn ra trong thực tiễn. Năng lực chuyên môn trong thực tế thƣờng thể hiện ở trình độ lành nghề và kinh nghiệm của ngƣời LĐ. Ví dụ: Ngƣời LĐ khi có sự am hiểu sâu, rộng về kết cấu máy móc thiết bị, đặc tính về nguyên nhiên vật liệu, dụng cụ thì họ có khả năng cao trong việc ngăn ngừa các sự cố và tai nạn LĐ xảy ra, mặt khác kinh nghiệm LĐ càng cao thì độ thuần thục trong thực hiện các thao tác LĐ càng cao, qua đó năng suất LĐ sẽ cao.

- Năng lực phƣơng pháp: Là khả năng và sự sẵn sàng sử dụng các kiến thức, kỹ năng đã tiếp thu đƣợc sao cho thích hợp với hoàn cảnh mới trong môi trƣờng cụ thể. Có khả năng xử lý thông tin trong quá trình LĐ và học tập, đƣa ra các giải pháp thích ứng để giải quyết các nhiệm vụ mới xuất hiện trong công việc. Có khả năng làm chủ thực tiễn để giải quyết các vấn đề nghề nghiệp và xã hội. - Năng lực xã hội: Là khả năng và sự sẵn sàng sử dụng phƣơng pháp học tập, đề ra chiến lƣợc, chiến thuật trong việc tự đào tạo và bồi dƣỡng, đồng thời có khả năng phối hợp với đồng nghiệp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, biết tổ chức phối hợp để làm việc theo tổ nhóm.

* Rèn ý thức, đạo đức nghề nghiệp, tác phong làm việc: Trong đào tạo nghề nghiệp, việc trang bị và rèn luyện cho ngƣời học có đƣợc “Phẩm chất lao động mới”, đó là tính kỷ luật, đạo đức nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, tính 13 thích ứng, sáng tạo, năng động, niềm tin đối với công việc và tổ chức đóng vai trò hết sức quan trọng trong hình thành nguồn nhân lực chất lƣợng cao. Hình thức đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp Theo Quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp, đào tạo nghề nghiệp có hai hình thức: * Đào tạo chính quy: Là hình thức đào tạo theo các khóa học tập trung toàn bộ thời gian do cơ sở GDNN thực hiện để đào tạo các trình độ SC, TC và CĐ. Đào tạo chính quy thƣờng đƣợc chia ra làm hai giai đoạn: Giai đoạn học tập cơ bản và giai đoạn học tập chuyên môn. Giai đoạn học tập cơ bản chiếm từ 20% đến 30% nội dung giảng dạy và tƣơng đối ổn định; Giai đoạn học tập chuyên môn (chiếm từ 70% đến 80% nội dung giảng dạy), ngƣời học đƣợc trang bị những kiến thức chuyên sâu về kiến thức và rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo, giúp họ nắm vững đƣợc các chế độ làm việc, phƣơng pháp LĐ tiên tiến của ngƣời có năng suất LĐ cao nhất trong sản xuất để hoàn thành mức sản lƣợng, mức thời gian sáng tạo, có tinh thần và ý thức tập thể, chấp hành đúng kỷ luật LĐ, biết tổ chức tốt nơi làm việc.

* Đào tạo thường xuyên: Là hình thức đào tạo vừa làm vừa học, học từ xa hoặc tự học có hƣớng dẫn đối với các chƣơng trình đào tạo trình độ SC, TC, CĐ và các chƣơng trình đào tạo nghề nghiệp khác, đƣợc thực hiện linh hoạt về chƣơng trình, thời gian, phƣơng pháp, địa điểm đào tạo, phù hợp với yêu cầu của ngƣời học. Đào tạo thƣờng xuyên thƣờng đƣợc tổ chức đào tạo theo mô-đun, tín chỉ; Đào tạo bồi dƣỡng nâng cao kỹ năng nghề; Đào tạo kèm cặp, truyền nghề. Đào tạo thƣờng xuyên còn có hai hình thức: Đào tạo tại nơi làm việc và đào tạo các lớp cạnh doanh nghiệp. - Đào tạo tại nơi làm việc: Là đào tạo trực tiếp, chủ yếu là thực hành ngay trong quá trình sản xuất, do doanh nghiệp tổ chức.

Đào tạo tại nơi làm việc đƣợc tiến hành dƣới hai hình thức: Cá nhân và tổ đội sản xuất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ