Tổng quan nghiên cứu

Quảng Ninh là một trong những đầu tàu phát triển kinh tế của khu vực phía Bắc với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2015-2020 đạt 10,7%, thu nhập bình quân đầu người vượt mốc 6.700 USD/năm và quy mô lực lượng lao động đạt 745,5 nghìn người vào năm 2019. Trong bối cảnh chuyển dịch mô hình phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu, lấy kinh tế xanh và dịch vụ du lịch làm trọng tâm, chất lượng nguồn nhân lực trở thành mắt xích mang tính quyết định. Mặc dù tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh tăng ấn tượng từ 65% năm 2015 lên 80% năm 2019, song tỷ lệ lao động có văn bằng, chứng chỉ nghề thực tế mới đạt 45%, phản ánh sự chênh lệch rõ rệt giữa số lượng và chất lượng đào tạo thực chất.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết bài toán mất cân đối cơ cấu trình độ và ngành nghề trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Mục tiêu cụ thể của công trình nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị chất lượng đào tạo nghề, phân tích toàn diện thực trạng hoạt động của 42 cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2015-2019, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2020-2025, định hướng đến năm 2030. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp đóng góp vào mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 85% vào năm 2020, tạo đòn bẩy cung ứng nhân lực chất lượng cao cho 8 khu công nghiệp tập trung và các khu kinh tế ven biển trọng điểm của địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng nền tảng phân tích dựa trên sự tích hợp của hai lý thuyết quản trị hiện đại: Lý thuyết Vốn nhân lực (Human Capital Theory) và Lý thuyết Quản trị chất lượng toàn diện (TQM) trong giáo dục. Bên cạnh đó, tác giả vận dụng mô hình đánh giá chất lượng theo chuẩn năng lực thực hiện kết hợp chuẩn đầu ra, tham chiếu bộ tiêu chuẩn kiểm định quốc tế AUN-QA phiên bản 3 với cấu trúc 11 tiêu chuẩn và 50 tiêu chí vận hành theo chu trình khép kín PDCA (Plan - Do - Check - Act).

Khung khái niệm trọng tâm bao gồm bốn nội dung cốt lõi:

  • Giáo dục nghề nghiệp: Bậc học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình bồi dưỡng nghề nghiệp khác theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014.
  • Đào tạo nghề nghiệp: Hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng thực hành chiếm từ 70% đến 80% thời lượng chương trình và thái độ nghề nghiệp để người học tham gia thị trường lao động.
  • Chất lượng giáo dục nghề nghiệp: Mức độ đáp ứng mục tiêu đào tạo, phản ánh giá trị gia tăng về năng lực hành nghề và sự hài lòng của doanh nghiệp sử dụng lao động.
  • Nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp: Quá trình cải tiến liên tục các điều kiện bảo đảm chất lượng từ khâu tuyển sinh, chương trình đào tạo, đội ngũ nhà giáo đến cơ sở vật chất kỹ thuật.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2015-2019 từ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ninh, Cục Thống kê tỉnh và báo cáo thường niên của 42 cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát toàn diện mạng lưới 32 cơ sở công lập, 10 cơ sở ngoài công lập, cùng phương pháp chọn mẫu phân tầng với 1.671 nhà giáo và 453 cán bộ quản lý tại 13 huyện, thị xã, thành phố.

Lý do lựa chọn phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian 5 năm và phương pháp tổng hợp - khái quát hóa là nhằm bóc tách chính xác các biến động định lượng về quy mô tuyển sinh, cơ cấu trình độ và tỷ lệ chuẩn hóa giảng viên. Timeline nghiên cứu đánh giá sâu giai đoạn 2015-2019, từ đó thiết lập các dự báo khoa học cho giai đoạn 2020-2025 và tầm nhìn 2030.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô tuyển sinh duy trì ở mức cao nhưng mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu trình độ. Trong tổng số 170.414 học viên được tuyển sinh giai đoạn 2015-2019, trình độ sơ cấp chiếm tỷ trọng áp đảo với 70,3% (119.784 người) và đào tạo dưới 3 tháng chiếm 15,0% (25.598 người). Ngược lại, đào tạo trình độ trung cấp chỉ đạt 12,3% (20.873 người) và cao đẳng chỉ chiếm vỏn vẹn 2,44% (4.159 người).

Thứ hai, cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa bắt kịp tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nhóm nghề vận hành thiết bị, phương tiện cơ giới chiếm tới 50,60% và khai thác mỏ chiếm 18,49% tổng số tuyển sinh. Trong khi đó, các nhóm ngành phục vụ mũi nhọn kinh tế dịch vụ như du lịch - dịch vụ chỉ chiếm 6,03% (tăng từ 1.165 người năm 2015 lên 2.985 người năm 2019) và công nghệ thông tin chỉ chiếm 1,02% (giảm xuống còn 321 người năm 2019).

Thứ ba, chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo còn tồn tại nhiều điểm nghẽn. Tính đến năm 2019, toàn tỉnh có 1.671 nhà giáo dạy nghề, trong đó trình độ sau đại học đạt 37,3% (28 Tiến sĩ và 595 Thạc sĩ). Tuy nhiên, có tới 590 nhà giáo (chiếm 35,31%) chưa đạt chuẩn theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp. Tỷ lệ thiếu hụt chuẩn tập trung ở năng lực tin học (33,51%), trình độ ngoại ngữ (26,39%) và kỹ năng nghề thực tế (20,59%).

Thứ tư, công tác phát triển chương trình và giáo trình ghi nhận bước tiến vượt bậc. Năm 2019, các cơ sở đã xây dựng, chỉnh sửa 220 chương trình đào tạo, tăng 236,56% so với năm 2015 (93 chương trình), trong đó chương trình cao đẳng tăng 316,67%. Số lượng giáo trình được biên soạn mới đạt 212 tài liệu năm 2019, tăng 731,03% so với 29 giáo trình của năm 2015.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ cột chồng kết hợp đồ thị đường thể hiện sự phân hóa cơ cấu tuyển sinh theo cấp trình độ qua từng năm, biểu đồ tròn phân lớp phản ánh tỷ trọng nhóm ngành đào tạo và bảng ma trận đối sánh tỷ lệ nhà giáo đạt chuẩn theo từng khối trường.

Nguyên nhân cốt lõi của sự bất cập bắt nguồn từ tâm lý chuộng bằng cấp đại học trong xã hội, khiến công tác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở gặp nhiều trở ngại. Phần lớn người học lựa chọn các khóa sơ cấp ngắn hạn để gia nhập thị trường lao động nhanh chóng thay vì theo đuổi hệ trung cấp hay cao đẳng. Sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp còn mang tính hình thức khi mới dừng lại ở việc tiếp nhận thực tập, chưa tham gia sâu vào khâu thiết kế chuẩn đầu ra. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của nhiều chuyên gia quản trị nhân lực tại Việt Nam, khẳng định giáo dục nghề nghiệp đang trong quá trình chuyển đổi từ đào tạo theo năng lực sẵn có sang đào tạo theo nhu cầu thực tiễn của thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và đổi mới tuyển sinh. Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp chặt chẽ với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội triển khai các chương trình tư vấn hướng nghiệp sớm tại 100% trường phổ thông, đặt mục tiêu thu hút 30-35% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào hệ giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2020-2025.

Thứ tư, chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ nhà giáo dạy nghề. Ủy ban nhân dân tỉnh cùng các cơ sở đào tạo tổ chức bồi dưỡng thường xuyên cho trên 1.500 lượt giảng viên mỗi năm, ưu tiên đào tạo kỹ năng số, ngoại ngữ chuyên ngành và công nghệ mới, phấn đấu đạt 100% nhà giáo đạt chuẩn kỹ năng nghề quốc gia trước năm 2025.

Thứ ba, tái cấu trúc chương trình đào tạo theo chuẩn đầu ra và cơ cấu kinh tế xanh. Các trường cao đẳng, trung cấp rà soát, đổi mới trên 300 chương trình, tăng thời lượng thực hành lên 70%, nâng tỷ trọng tuyển sinh khối ngành du lịch, logistics, công nghệ thông tin lên trên 25% vào năm 2025 nhằm phục vụ các đại dự án tại Hạ Long, Vân Đồn và Quảng Yên.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế liên kết ba nhà gồm Nhà nước, Nhà trường và Doanh nghiệp. Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh và các tập đoàn kinh tế lớn tham gia trực tiếp vào hội đồng thẩm định giáo trình, đặt hàng đào tạo theo địa chỉ với chỉ tiêu cam kết 100% sinh viên tốt nghiệp hệ chính quy có việc làm đúng chuyên ngành trong vòng 6 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban nhân dân các cấp tại Quảng Ninh có thể khai thác các luận cứ khoa học để hoàn thiện quy hoạch mạng lưới 42 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, ban hành chính sách hỗ trợ học phí và kinh phí đào tạo nghề đến năm 2030.

Nhóm lãnh đạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Ban giám hiệu các trường cao đẳng, trung cấp và trung tâm giáo dục nghề nghiệp sử dụng dữ liệu thực trạng để cải tiến quy trình kiểm định chất lượng, xây dựng chiến lược phát triển 1.671 cán bộ giảng viên và nâng cao sức cạnh tranh thương hiệu đào tạo.

Nhóm doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề: Các đơn vị sử dụng lao động trong các khu công nghiệp, doanh nghiệp ngành mỏ, du lịch tham khảo mô hình hợp tác đào tạo kép để chủ động đặt hàng nhân lực có tay nghề, cắt giảm chi phí đào tạo lại sau tuyển dụng.

Nhóm nhà nghiên cứu và học viên cao học: Giảng viên, sinh viên ngành Quản trị nhân lực, Quản lý giáo dục có thể sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính trong nghiên cứu chất lượng đào tạo cấp tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính dẫn đến sự mất cân đối về trình độ đào tạo nghề tại Quảng Ninh giai đoạn 2015-2019 là gì? Sự mất cân đối bắt nguồn từ tâm lý chuộng bằng cấp đại học và nhu cầu có việc làm nhanh của người lao động. Điều này khiến 85,26% người học tập trung vào hệ sơ cấp và dưới 3 tháng, trong khi đào tạo cao đẳng chỉ đạt 2,44% với 4.159 sinh viên trong suốt 5 năm.

Đội ngũ giảng viên giáo dục nghề nghiệp tại địa phương đang gặp phải những hạn chế nào về chuẩn hóa? Dù có 595 Thạc sĩ và 28 Tiến sĩ, toàn tỉnh vẫn còn 590 nhà giáo (chiếm 35,31%) chưa đạt chuẩn nghề nghiệp theo luật định. Trong đó, điểm nghẽn lớn nhất là 33,51% chưa đạt chuẩn tin học và 26,39% chưa đạt chuẩn ngoại ngữ theo yêu cầu hội nhập.

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã đổi mới chương trình đào tạo như thế nào trong giai đoạn khảo sát? Hoạt động biên soạn chương trình tăng trưởng mạnh mẽ, từ 93 chương trình năm 2015 lên 220 chương trình năm 2019 (tăng 236,56%). Đáng chú ý, số lượng giáo trình được biên soạn mới tăng vọt từ 29 lên 212 bộ tài liệu vào năm 2019.

Mối liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp tại Quảng Ninh mang lại hiệu quả thực tế ra sao? Sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp giúp nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn tỉnh từ 65% lên 80%. Nhiều ngành nghề kỹ thuật mỏ và vận hành cơ giới đạt tỷ lệ giải quyết việc làm sau tốt nghiệp trên 90%.

Luận văn định hướng mục tiêu phát triển chất lượng nguồn nhân lực đến năm 2025 như thế nào? Đề tài hướng tới mục tiêu đưa tỷ lệ lao động có văn bằng, chứng chỉ vượt mức 50% vào năm 2025, chuẩn hóa 100% đội ngũ nhà giáo và chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu tuyển sinh sang khối ngành du lịch, công nghiệp công nghệ cao.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa sâu sắc khung lý thuyết về quản trị chất lượng giáo dục nghề nghiệp dựa trên mô hình chuẩn đầu ra AUN-QA và chu trình PDCA.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng mạng lưới 42 cơ sở giáo dục nghề nghiệp tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015-2019 với 170.414 người được tuyển sinh.
  • Phát hiện các điểm nghẽn cốt lõi gồm tỷ lệ đào tạo cao đẳng thấp (2,44%), cơ cấu nghề dịch vụ chỉ chiếm 6,03% và 35,31% nhà giáo chưa đạt chuẩn.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gắn kết chặt chẽ giữa phân luồng học sinh, phát triển 1.671 giảng viên và hợp tác doanh nghiệp giai đoạn 2020-2025.
  • Xác lập lộ trình thực hiện đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 nhằm đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 85%, phục vụ hiệu quả mục tiêu phát triển kinh tế xanh của tỉnh Quảng Ninh.

Các nhà quản lý, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cần nhanh chóng thể chế hóa các nhóm giải pháp của luận văn thành các chương trình hành động cụ thể, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và khẳng định vị thế cực tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quảng Ninh trong kỷ nguyên mới.