Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Kể từ Báo cáo Brundtland năm 1987 của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới, vấn đề môi trường đã trở thành tâm điểm trên phạm vi toàn cầu. Đối với các doanh nghiệp, tăng trưởng bền vững bắt buộc phải gắn liền với công tác bảo vệ môi trường trong bối cảnh các quy định pháp lý ngày càng chặt chẽ, khiến các khoản chi phí liên quan đến môi trường gia tăng. Tuy nhiên, hệ thống kế toán truyền thống thường bỏ qua hoặc không nhận diện đầy đủ chi phí môi trường (CPMT) do quan niệm coi chi phí này chiếm tỷ trọng nhỏ, đồng thời kế toán truyền thống quá chú trọng vào thước đo tiền tệ mà xem nhẹ thông tin phi tiền tệ (Ditz và cộng sự, 1995; Deegan, 2003). Đáng lưu ý, CPMT thường bị ẩn trong chi phí sản xuất chung (CPSXC), dẫn đến việc phân bổ chi phí thiếu chính xác, làm sai lệch quyết định quản trị và tạo ra sự thiếu kết nối giữa bộ phận kế toán với các bộ phận chức năng khác trong doanh nghiệp (UNDSD, 2001; Burritt, 2004; IFAC, 2005; Jasch, 2009).
Ngành chế biến thủy sản (CBTS) Việt Nam giữ vị trí mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, mang lại giá trị kim ngạch xuất khẩu cao và giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động. Dù vậy, hoạt động này gây áp lực đáng kể lên môi trường sinh thái (đặc biệt là phát sinh nước thải hữu cơ, chất thải rắn và tiêu hao tài nguyên nước, năng lượng). Để vượt qua các rào cản kỹ thuật và hàng rào phi thuế quan khi tham gia thị trường quốc tế, các doanh nghiệp chế biến thủy sản buộc phải đáp ứng hàng loạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và trách nhiệm môi trường như GlobalGAP, HACCP, ISO 14001, BRC, IFS, BAP, ASC. Tại Việt Nam, kế toán quản trị chi phí môi trường (KTQTCPMT) vẫn là lĩnh vực mới mẻ, các nghiên cứu chuyên sâu gắn với đặc thù sản xuất sạch hơn (SXSH) trong ngành chế biến thủy sản xuất khẩu còn thiếu hụt, đòi hỏi phải có một công trình nghiên cứu hệ thống nhằm cung cấp cơ sở khoa học và giải pháp thực tế.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là nhận diện, xác định CPMT và xác lập nội dung KTQTCPMT trong doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp chế biến thủy sản nói riêng; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp thực hiện KTQTCPMT tại các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam nhằm đáp ứng xu hướng phát triển bền vững.
Các mục tiêu cụ thể được luận án xác định bao gồm:
- Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về CPMT và KTQTCPMT trong doanh nghiệp.
- Phân tích, đánh giá thực trạng KTQTCPMT về thu thập, xử lý và cung cấp thông tin quá khứ, tương lai phục vụ quản trị môi trường tại các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam được khảo sát, chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp và kiến nghị phù hợp nhằm thực hiện KTQTCPMT tại các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam trong thời gian tới.
Để đạt được các mục tiêu trên, luận án giải quyết bốn câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Việc nhận diện CPMT đã đầy đủ và có đo lường riêng biệt không?
- Câu hỏi 2: KTQTCPMT trong doanh nghiệp hiện nay có đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ cho quản trị môi trường trong doanh nghiệp hay không?
- Câu hỏi 3: Hiện trạng KTQTCPMT trong các doanh nghiệp chế biến thủy sản tại Việt Nam có cung cấp thông tin đáp ứng yêu cầu quản trị môi trường của doanh nghiệp và tuân thủ các quy định, tiêu chuẩn môi trường và sản phẩm khi thực hiện hoạt động xuất khẩu hay không?
- Câu hỏi 4: Cần phải làm gì để thực hiện KTQTCPMT trong các doanh nghiệp chế biến thủy sản tại Việt Nam trong thời gian tới?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về kế toán quản trị chi phí môi trường tại các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam trong xu hướng phát triển bền vững.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu mặt hàng đông lạnh đang hoạt động sản xuất kinh doanh; nghiên cứu nhận thức và nhu cầu thông tin của nhà quản trị, quy trình nhận diện, xác định, thu thập, xử lý và cung cấp dòng thông tin quá khứ cũng như dòng thông tin tương lai về CPMT.
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại 24 tỉnh, thành phố có lợi thế về nguồn lợi thủy sản tại Việt Nam, phát phiếu điều tra tới 110 doanh nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp và sơ cấp được thu thập trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016; thời gian tiến hành điều tra khảo sát thực tế diễn ra từ ngày 01/10/2015 đến ngày 30/01/2016.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trong nước
Luận án phân loại các công trình nghiên cứu về kế toán môi trường tại Việt Nam từ năm 2008 theo hai nhánh chính:
- Nghiên cứu về CPMT trong doanh nghiệp: Trọng Dương (2008) dựa trên khung lý thuyết của UNDSD (2001) và IFAC (2005) để đề xuất phân loại CPMT thành chi phí xử lý chất thải, chi phí phòng ngừa và quản lý môi trường, giá trị thu mua của phế thải và thu nhập môi trường, khẳng định khả năng kiểm soát CPMT nhưng chưa xét đến thông tin phi tiền tệ. Bùi Thị Thu Thủy (2010) nghiên cứu mô hình quản lý và hạch toán CPMT trong doanh nghiệp khai thác than, giải thích nguyên nhân phát sinh và phân bổ CPMT nhưng chưa ứng dụng các kỹ thuật chuyên sâu như kế toán chi phí dòng vật liệu (MFCA) hay kế toán chi phí dựa trên hoạt động (ABC). Phạm Đức Hiếu (2010), Phạm Đức Hiếu và Trần Thị Hồng Mai (2012) làm rõ khái niệm tài sản môi trường, nợ phải trả môi trường, CPMT và thu nhập môi trường, đề xuất phương pháp phân loại nhưng chưa gắn kết cụ thể dòng thông tin quá khứ và tương lai vào chu trình ra quyết định.
- Nghiên cứu về kế toán môi trường và ứng dụng ngành: Các nghiên cứu lý thuyết tổng quát của Phạm Quang Huy (2012), Ngô Thị Thu Hồng (2016), Hà Xuân Thạch (2014), Phạm Hoài Nam (2015), Lê Anh Tuấn và Nguyễn Lê Nhân (2016), Đào Thị Loan và Nguyễn Thị Hạnh Duyên (2016) nhấn mạnh áp lực tuân thủ và định hướng vận dụng kế toán môi trường vào hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam. Về kinh nghiệm quốc tế, Hoàng Thị Bích Ngọc (2014) khảo sát thực tiễn tại Nhật Bản; Đào Thị Giang và Đào Thị Thu Hà (2016) tổng kết kinh nghiệm từ Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc về cân bằng vật chất đầu vào - đầu ra và báo cáo trách nhiệm xã hội. Các nghiên cứu tình huống thực nghiệm gồm có: Phạm Hoài Nam (2016) nghiên cứu doanh nghiệp tại Quảng Ngãi; Trần Thị Hồng Mai (2009, 2012) khảo sát ngành đúc nhôm; Lê Thị Tâm và Phạm Thị Bích Chi (2016) nghiên cứu ngành sản xuất gạch; Schaltegger và cộng sự (2012) tại Nhà máy bia Sài Gòn; Phạm Thị Thu Hiền (2012) tại Công ty Cổ phần Gạch men Cosevco.
Các hướng nghiên cứu nước ngoài
- Nghiên cứu lý thuyết và khung hướng dẫn: Hướng dẫn từ các tổ chức quốc tế như USEPA (1995), UNDSD (2001), IFAC (2005) và nghiên cứu của Hansen và cộng sự (2011) đã xác lập ranh giới CPMT nội bộ và chi phí xã hội bên ngoài. Các phương pháp đo lường được chuẩn hóa gồm: phương pháp kế toán chi phí dòng vật liệu - MFCA (UNDSD, 2001; Strobel và Redmann, 2002; Bộ Môi trường Đức, 2003; IFAC, 2005; METI Nhật Bản, 2002, 2007, 2011); kế toán chi phí đầy đủ - FCA (Epstein, 1996b; CICA, 1997; Bebbington và cộng sự, 2001); kế toán chi phí trên cơ sở hoạt động - ABC (Kreuze và Newell, 1994; Schaltegger và Burritt, 2000; Atkinson và cộng sự, 2011); kế toán chi phí vòng đời - LCC (Kreuze và Newell, 1994; Schaltegger và Burritt, 2000; Parker, 2008; Hunkeler và cộng sự). Vấn đề báo cáo và hỗ trợ quyết định đầu tư được hoàn thiện bởi Jasch (2009), Hansen và cộng sự (2008), Sarker và Burritt (2010), Minato (2011).
- Nghiên cứu thực nghiệm và nghiên cứu tình huống: Nghiên cứu thực tế tại các tập đoàn như Canon Inc., Fujitsu, Dow Chemical, ICAFE, Novo Nordisk, Ontario Hydro (USEPA, 1996), BSO/Origin (Bebbington, 2001) cùng các khảo sát của Ditz và cộng sự (1995, 1999), UNIDO (2003), Deegan (2003), Gale (2006), Burnett và Hansen (2008), Graff và cộng sự (1998), Oshini và cộng sự (2008) đều chứng minh CPMT ẩn thực tế lớn hơn nhiều so với số liệu ghi nhận trên báo cáo tài chính truyền thống.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
- Các công trình lý thuyết trước đây chưa hệ thống hóa toàn diện nội dung KTQTCPMT thành quy trình thu thập, xử lý và cung ứng song song cả hai dòng thông tin: thông tin quá khứ (thực hiện, kiểm soát) và thông tin tương lai (dự toán, lập kế hoạch, đánh giá dự án đầu tư môi trường).
- Các nghiên cứu thực nghiệm chủ yếu dừng lại ở việc kiểm toán hoặc ước lượng độ lớn CPMT đơn lẻ, thiếu mô hình tích hợp giữa kỹ thuật MFCA và phương pháp ABC nhằm liên kết thông tin vật chất (phi tiền tệ) với thông tin giá trị (tiền tệ) để phục vụ việc ra quyết định điều hành sản xuất.
- Chưa có nghiên cứu chuyên biệt nào khảo sát toàn diện thực trạng và xây dựng mô hình KTQTCPMT ứng dụng cho ngành chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu tại Việt Nam, nơi chịu sự chi phối ngặt nghèo của các tiêu chuẩn môi trường quốc tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án tiếp cận trên nền tảng lý thuyết kế toán quản trị môi trường (EMA), tập trung vào phân hệ chi phí (KTQTCPMT). Khái niệm CPMT được xem xét theo quan điểm mở rộng của USEPA (1995), UNDSD (2001), IFAC (2005) và Bộ Môi trường Liên bang Đức: CPMT bao gồm toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến tổn hại và bảo vệ môi trường, phân định thành chi phí tư nhân (nội bộ doanh nghiệp chịu) và chi phí xã hội (bên ngoài). Trong nội bộ, chi phí được phân chia thành chi phí hiện hữu (chi phí trực tiếp xử lý nước thải, phí bảo vệ môi trường, tiền phạt) và chi phí ẩn (chi phí nguyên vật liệu nằm trong phế phẩm, hao hụt năng lượng, chi phí quản lý giám sát).
Khung kỹ thuật phân tích dựa trên sự kết hợp giữa:
- Phương pháp kế toán chi phí dòng luân chuyển vật liệu (MFCA): Theo dõi cân bằng vật chất đầu vào - đầu ra (Material Balance), chia đầu ra thành sản phẩm mong muốn và đầu ra phi sản phẩm (chất thải, phụ phẩm).
- Phương pháp kế toán chi phí dựa trên cơ sở hoạt động (ABC): Tập hợp chi phí phát sinh theo các hoạt động môi trường cụ thể và phân bổ chính xác cho các đối tượng chịu chi phí dựa trên các tiêu thức dẫn dắt chi phí (cost drivers).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Tác giả kết hợp phương pháp định tính và định lượng, sử dụng cách tiếp cận hệ thống, logic và biện chứng:
| Phương pháp | Quy mô mẫu / Nguồn dữ liệu | Đối tượng / Kỹ thuật thực hiện |
|---|---|---|
| Điều tra khảo sát bằng bảng hỏi | - Phát ra: 110 DN tại 24 tỉnh, thành phố. - Thu về: 83 DN. - Hợp lệ đưa vào phân tích: 75 DN (gửi đủ 2 phiếu). |
- Mẫu 1: Nhà quản trị (Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc, Trưởng phòng kỹ thuật). - Mẫu 2: Kế toán trưởng và kế toán viên. - Cơ cấu: 56 công ty cổ phần (74,67%), 19 công ty TNHH (25,33%, gồm 7 DN có vốn ĐTNN 100% - chiếm 9,33%). |
| Phỏng vấn sâu | Chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà quản trị doanh nghiệp, kế toán trưởng và kế toán viên | Phỏng vấn trực tiếp nhằm thu thập các dữ liệu định tính về tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất, rào cản áp dụng KTQTCPMT và thực hiện trách nhiệm xã hội. |
| Nghiên cứu điển hình (Case study) | 7 doanh nghiệp chế biến thủy sản tiêu biểu áp dụng sản xuất sạch hơn và tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế | 1. Công ty TNHH Bắc Đẩu 2. CTCP XNK Thủy sản miền Trung 3. CTCP Nha Trang Seafoods - F17 4. CTCP Vĩnh Hoàn 5. CTCP Thủy hải sản Minh Phú 6. CTCP Chế biến Thủy sản và XNK Cà Mau (Camimex) 7. CTCP XNK Thủy sản Cửu Long |
| Phân tích dữ liệu thứ cấp | Dữ liệu thống kê giai đoạn 2010 - 2016 | Báo cáo từ NAFIQAD, VASEP, Tổng cục Thủy sản, Tổng cục Thống kê, tạp chí chuyên ngành và website chính thức. |
| Kỹ thuật phân tích dữ liệu | Phần mềm thống kê SPSS phiên bản 22 | Thống kê mô tả tần số, tỷ lệ phần trăm, lập bảng chéo (cross-tabulation), biểu đồ nhằm phân tích mối quan hệ giữa nhận thức và mức độ vận dụng thông tin CPMT. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kế toán quản trị chi phí môi trường trong doanh nghiệp
Chương 1 hệ thống hóa bản chất, vị trí của KTQTCPMT trong hệ thống thông tin kế toán quản trị. Luận án phân tích các cách phân loại CPMT theo khả năng đo lường, theo hoạt động và theo dòng luân chuyển vật liệu, đồng thời làm rõ rằng CPMT không chỉ bao gồm chi phí xử lý cuối đường ống mà phần lớn nằm ở giá trị vật liệu bị thất thoát trong dòng thải.
Nội dung trọng tâm của chương là thiết lập hai phân hệ thông tin:
- Hệ thống thông tin quá khứ: Gồm quy trình nhận diện, phân loại, đo lường bằng thước đo tiền tệ kết hợp thước đo hiện vật (kg, $m^3$, kWh), ghi nhận và phân bổ CPMT vào giá thành thông qua kỹ thuật MFCA kết hợp ABC (Sơ đồ 1.3 và Sơ đồ 1.4), lập các báo cáo CPMT nội bộ định kỳ.
- Hệ thống thông tin tương lai: Xây dựng hệ thống dự toán CPMT (dự toán chi phí dòng vật liệu, dự toán chi phí xử lý ô nhiễm, dự toán chi phí phòng ngừa), phân tích thông tin chi phí phục vụ việc định giá sản phẩm và thẩm định các dự án đầu tư môi trường thông qua các chỉ số tài chính (NPV, IRR).
Bên cạnh đó, chương tổng kết kinh nghiệm thực tiễn áp dụng KTQTCPMT tại các quốc gia như Đức, Nhật Bản, Hoa Kỳ, rút ra bài học cho doanh nghiệp Việt Nam về việc xây dựng hướng dẫn hạch toán dòng vật liệu, thiết lập định mức tiêu hao và tăng cường liên kết giữa bộ phận kỹ thuật với kế toán.
Chương 2: Nghiên cứu thực trạng kế toán quản trị chi phí môi trường tại các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam
Chương 2 mô tả đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành chế biến thủy sản xuất khẩu: các dòng sản phẩm chủ lực gồm tôm đông lạnh (Sơ đồ 2.2), surimi (Sơ đồ 2.3), cá tra và basa fillet đông lạnh (Sơ đồ 2.4). Luận án phân tích kết quả quan trắc chất lượng nước thải (Bảng 2.2), chỉ ra lượng chất thải hữu cơ, phụ phẩm đầu vỏ tôm, da mỡ cá, chỉ số tổng chất rắn lơ lửng (TSS) phát sinh rất lớn.
Kết quả điều tra tại 75 doanh nghiệp và phân tích sâu tại 7 doanh nghiệp điển hình cho thấy:
- Nhận thức và nhu cầu thông tin: Mặc dù phần lớn nhà quản trị đánh giá cao trách nhiệm xã hội và nhận thức được yêu cầu tuân thủ các chứng nhận quốc tế (BAP, ASC, HACCP, ISO 14001 - Biểu đồ 2.4), nhưng việc đo lường CPMT còn mang tính đối phó.
- Thực trạng thu thập, xử lý thông tin quá khứ: Chưa có tài khoản kế toán riêng theo dõi CPMT. Đa số doanh nghiệp gộp toàn bộ chi phí xử lý nước thải, chi phí quan trắc môi trường và hao hụt vật liệu vào chi phí sản xuất chung (tài khoản 627) hoặc chi phí quản lý doanh nghiệp (tài khoản 642). Không lập bảng cân bằng vật chất, chưa xác định giá trị nguyên liệu nằm trong phụ phẩm và dòng thải, dẫn đến việc tính sai giá thành sản phẩm chế biến.
- Thực trạng xử lý thông tin tương lai: Các doanh nghiệp chưa xây dựng hệ thống dự toán CPMT riêng biệt; việc phân tích chi phí phục vụ quyết định đầu tư công nghệ sản xuất sạch hơn hoặc hệ thống xử lý nước thải (HTXLNT) chủ yếu dựa trên ước tính cảm tính, thiếu mô hình định lượng chi tiết.
- Nguyên nhân của hạn chế: Khung pháp lý kế toán quốc gia chưa có chuẩn mực hay thông tư hướng dẫn cụ thể về kế toán môi trường; trình độ nhân viên kế toán còn thuần túy về kế toán tài chính; thiếu sự phối hợp chia sẻ dữ liệu định mức giữa kỹ sư vận hành xưởng chế biến với bộ phận kế toán.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị về kế toán quản trị chi phí môi trường trong các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam
Trên cơ sở định hướng phát triển ngành chế biến thủy sản đến năm 2020 gắn với bảo vệ môi trường, Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện:
- Nhóm nguyên tắc thực hiện: Đảm bảo tính khả thi, phù hợp với đặc thù quy trình công nghệ chế biến đông lạnh và nguyên tắc cân đối giữa chi phí bỏ ra với lợi ích kinh tế thu được.
- Quy trình nhận diện và đo lường CPMT (Sơ đồ 2.1 Chương 3): Luận án xây dựng quy trình kỹ thuật xác định chi phí môi trường gồm các bước thu thập thông tin hiện vật, lập bảng cân bằng vật chất (Bảng 3.3) tại các công đoạn (tiếp nhận nguyên liệu, sơ chế, fillet/bóc vỏ, cấp đông, đóng gói).
- Hoàn thiện hệ thống thông tin quá khứ: Thiết lập hệ thống tài khoản chi tiết cấp 2, cấp 3 để tách riêng CPMT khỏi chi phí sản xuất chung thông thường; áp dụng mô hình kết hợp MFCA và ABC để phân bổ chi phí xử lý chất thải và giá trị tổn thất vật liệu vào từng đối tượng chịu chi phí; thiết kế hệ thống báo cáo quản trị chi phí môi trường định kỳ.
- Hoàn thiện hệ thống thông tin tương lai: Xây dựng hệ thống định mức chi phí môi trường toàn doanh nghiệp (Bảng 3.2), lập dự toán CPMT theo từng giai đoạn sản xuất (Bảng 3.1) và thiết lập mô hình đánh giá hiệu quả tài chính dự án đầu tư môi trường tích hợp dòng tiền tiết kiệm từ việc giảm thiểu chất thải và tái chế phụ phẩm.
- Điều kiện thực hiện và kiến nghị: Luận án đề xuất kiến nghị cụ thể đối với Bộ Tài chính (ban hành hướng dẫn KTQTCPMT), Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, VASEP (tổ chức đào tạo nghiệp vụ, cung cấp cơ sở dữ liệu định mức ngành) và các giải pháp tổ chức bộ máy kế toán nội bộ trong doanh nghiệp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa, làm sáng tỏ bản chất, nội dung của KTQTCPMT trong hệ thống thông tin kế toán quản trị doanh nghiệp, phân định rõ phạm vi đo lường thông tin tiền tệ và phi tiền tệ.
- Xây dựng khung phân loại và quy trình xử lý dữ liệu chi phí môi trường tích hợp, làm rõ cơ chế kết hợp giữa phương pháp kế toán chi phí dòng luân chuyển vật liệu (MFCA) với phương pháp kế toán chi phí dựa trên hoạt động (ABC) nhằm nhận diện chuẩn xác chi phí ẩn trong các quy trình chế biến công nghiệp.
- Xác lập mô hình cung cấp thông tin toàn diện, liên kết dòng thông tin quá khứ (phản ánh, kiểm soát chi phí thực tế) với dòng thông tin tương lai (lập dự toán, thẩm định dự án đầu tư môi trường, định giá sản phẩm).
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Phản ánh bức tranh thực trạng KTQTCPMT tại các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu Việt Nam thông qua bộ dữ liệu khảo sát 75 doanh nghiệp và phân tích sâu 7 tình huống điển hình tại các đơn vị xuất khẩu lớn (Minh Phú, Vĩnh Hoàn, Nha Trang Seafoods, Camimex, Bắc Đẩu...).
- Chỉ ra các điểm nghẽn cụ thể trong hạch toán thực tế: sự ẩn giấu của CPMT trong chi phí sản xuất chung, sự thiếu vắng bảng cân bằng dòng vật chất và sự tách rời giữa thông tin kỹ thuật với sổ sách kế toán.
- Thiết kế hệ thống công cụ ứng dụng trực tiếp vào thực tế ngành thủy sản:
- Bảng xác định chi phí môi trường theo từng giai đoạn sản xuất (Bảng 3.1);
- Bảng định mức chi phí sản xuất và môi trường toàn doanh nghiệp (Bảng 3.2);
- Bảng cân bằng vật chất tại dây chuyền chế biến tôm, cá tra, surimi (Bảng 3.3);
- Hệ thống báo cáo chi phí môi trường nội bộ phục vụ việc kiểm soát hao hụt và hỗ trợ ra quyết định kinh doanh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do môi trường là vấn đề nhạy cảm đối với các doanh nghiệp chế biến thủy sản tại Việt Nam, khả năng tiếp cận các số liệu tài chính chi tiết gặp nhiều rào cản. Mẫu khảo sát hợp lệ dừng lại ở 75 doanh nghiệp thuộc nhóm chế biến xuất khẩu đông lạnh (tôm, cá tra, surimi), chưa bao quát toàn bộ các phân ngành chế biến thủy sản khác (như chế biến đồ hộp, thủy sản khô, nước mắm).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu áp dụng kỹ thuật MFCA cho chuỗi cung ứng thủy sản khép kín từ khâu nuôi trồng, đánh bắt đến bàn ăn; nghiên cứu ứng dụng phần mềm ERP chuyên dụng trong việc tự động hóa thu thập dữ liệu cân bằng dòng vật chất và tích hợp chỉ số bền vững vào hệ thống báo cáo tích hợp (Integrated Reporting).
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán: Tài liệu cung cấp cơ sở lý luận chuẩn mực về kế toán quản trị môi trường, phương pháp kết hợp MFCA - ABC và mô hình khảo sát thực nghiệm kết hợp giữa bảng hỏi diện rộng với phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình (Case study).
- Đối với ban lãnh đạo và kế toán trưởng doanh nghiệp chế biến thủy sản: Cung cấp tài liệu hướng dẫn kỹ thuật thiết lập bảng cân bằng vật chất, quy trình bóc tách chi phí ẩn trong dòng thải và phương pháp lập dự toán CPMT để vừa tiết kiệm chi phí sản xuất, vừa vượt qua các cuộc thanh tra tiêu chuẩn môi trường quốc tế.
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, VASEP): Luận án là căn cứ thực tiễn để xây dựng thông tư hướng dẫn hạch toán kế toán môi trường cho các ngành công nghiệp chế biến có nguy cơ gây ô nhiễm cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát mẫu thực tế gồm bao nhiêu doanh nghiệp và tỷ lệ phản hồi hợp lệ đạt bao nhiêu?
Tác giả đã phát phiếu điều tra tới 110 doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu đông lạnh tại 24 tỉnh, thành phố; thu về 83 phiếu phản hồi, trong đó có 75 doanh nghiệp gửi đủ cả 2 phiếu khảo sát (phiếu dành cho nhà quản trị và phiếu dành cho kế toán trưởng/kế toán viên) đảm bảo tính hợp lệ. Mẫu nghiên cứu 75 doanh nghiệp gồm 56 công ty cổ phần (chiếm 74,67%) và 19 công ty TNHH (chiếm 25,33%, trong đó có 7 doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, chiếm 9,33%).
2. Bảy doanh nghiệp chế biến thủy sản điển hình được tác giả chọn nghiên cứu tình huống sâu là những đơn vị nào?
Bảy đơn vị tiêu biểu áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn và tuân thủ các quy chuẩn môi trường quốc tế được lựa chọn phân tích điển hình gồm:
- Công ty TNHH Bắc Đẩu;
- Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản miền Trung;
- Công ty Cổ phần Nha Trang Seafoods - F17;
- Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn;
- Công ty Cổ phần Thủy hải sản Minh Phú;
- Công ty Cổ phần Chế biến Thủy sản và Xuất nhập khẩu Cà Mau;
- Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Cửu Long.
3. Theo kết quả khảo sát, hạn chế cốt lõi trong thực hành kế toán chi phí môi trường tại các doanh nghiệp thủy sản hiện nay là gì?
Hạn chế cốt lõi là các doanh nghiệp chưa nhận diện và đo lường tách biệt CPMT; hầu hết các khoản chi phí liên quan đến môi trường (chi phí xử lý nước thải, phí bảo vệ môi trường, giá trị nguyên vật liệu nằm trong phế phẩm, phụ phẩm) đều bị ẩn trong tài khoản Chi phí sản xuất chung (tài khoản 627) hoặc Chi phí quản lý doanh nghiệp (tài khoản 642). Các doanh nghiệp chưa lập bảng cân bằng vật chất và hoàn toàn thiếu vắng các báo cáo kế toán quản trị chuyên biệt về chi phí môi trường.
4. Tác giả đề xuất kết hợp các công cụ kỹ thuật kế toán nào để giải quyết bài toán chi phí môi trường trong ngành thủy sản?
Luận án đề xuất tích hợp phương pháp kế toán chi phí dòng luân chuyển vật liệu (MFCA) với phương pháp kế toán chi phí dựa trên hoạt động (ABC). Trong đó, MFCA đóng vai trò xác định dòng vật chất đầu vào - đầu ra, phân tách giá trị nguyên vật liệu nằm trong sản phẩm và chất thải; phương pháp ABC đóng vai trò tập hợp và phân bổ chính xác các chi phí hoạt động môi trường theo các tiêu thức dẫn dắt chi phí thực tế.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Thị Hoài Nam đã giải quyết thành công khoảng trống lý luận và thực tiễn về kế toán quản trị chi phí môi trường trong ngành chế biến thủy sản xuất khẩu Việt Nam. Bằng việc kết hợp điều tra thực nghiệm diện rộng tại 75 doanh nghiệp với phân tích sâu tại 7 trường hợp điển hình thông qua công cụ SPSS 22, công trình làm rõ sự tồn tại của các khoản chi phí môi trường ẩn trong giá thành sản phẩm. Hệ thống giải pháp đề xuất dựa trên kỹ thuật tích hợp MFCA và ABC, cùng hệ thống bảng định mức và cân bằng vật chất, mang lại giá trị ứng dụng thiết thực giúp các doanh nghiệp thủy sản vừa tối ưu hóa hiệu quả kinh tế, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong chuỗi giá trị toàn cầu.