Chương 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÚC ĐẨY XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Chính quyền cấp xã và đội ngũ cán bộ công chức cấp xã 1. Chính quyền cấp xã 1.
Khái niệm chính quyền cấp xã Theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) ngày 26/11/2003, chính quyền cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một cấp cuối cùng trong hệ thống hành chính 4 cấp, xã, phường, thị trấn được xác định là cấp cơ sở. Vì vậy, cấp xã là nền tảng của hệ thống chính trị, đóng vai trò thiết thực trong việc xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là yếu tố quyết định sự thành công của cách mạng nước ta. Chính quyền cấp xã bao gồm HĐND và UBND, trong đó HĐND “là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân và cơ quan nhà nước cấp trên”. UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND và cơ quan nhà nước cấp trên.[20] Chính quyền cấp xã là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. - Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp giải quyết các yêu cầu của nhân dân. Chính quyền cấp xã cũng là nơi trực tiếp đưa ra các giải pháp cần thiết theo thẩm quyền để giải quyết những yêu cầu chính đáng của người dân, tạo điều kiện cho người dân có cuộc sống bình yên, thực hiện có hiệu quả các quyền và nghĩa vụ của mình đối với nhà nước và cộng đồng. - Chính quyền cấp xã là nơi quyết định các vấn đề kinh tế - xã hội ở địa phương.
Tính hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền cấp 5 xã đóng vai trò quan trọng, chủ yếu trong việc cung cấp các dịch vụ công phục vụ nhân dân và bộ máy nhà nước. - Chính quyển cấp xã là nơi nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân địa phương để kịp thời phản ánh với cơ quan nhà nước cấp trên, giúp nhà nước đề ra các biện pháp phù hợp với đặc điểm của mỗi địa phương. Chính quyền cấp xã là trung tâm của hệ thống chính trị ở cơ sở, là địa bàn gắn trực tiếp nhất với cuộc sống nhân dân, tất cả các tổ chức quyền lực nhà nước cấp trên cuối cùng đều phải thông qua vai trò của hệ thống chính quyền cấp xã. Vì vậy, không có chính quyền cơ sở vững mạnh các tổ chức chính quyền cấp trên khó có thể phát huy tác dụng.
Như vậy, chính quyền cấp xã là trung tâm của hệ thống chính trị cơ sở, là một trong các cấp chính quyền của nhà nước ta gồm HĐND và UBND là những cơ quan quyết định và tổ chức thực hiện những chủ trương, biện pháp liên quan đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đời sống của nhân dân ở địa phương theo quy định của Hiếp pháp và pháp luật. Đặc điểm của chính quyền cấp xã Một là: Chính quyền cấp xã là cấp cơ sở trực tiếp tiếp xúc với nhân dân. Cán bộ, công chức cấp xã thực hiện quan hệ công tác không chỉ với tư cách là người thực thi quyền lực của nhà nước mà còn là người trong mối quan hệ gia tộc và xóm làng lâu đời. Là người trực tiếp hàng ngày giải quyết các vấn đề liên quan đến lợi ích thiết thực của đời sống nhân dân, cán bộ, công chức cấp xã phải đạt được: một mặt, đúng chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; mặt khác phải thấu tình đạt lý trong quan hệ xóm làng.
Hai là: Tổ chức bộ máy của chính quyền cấp xã khác với các đơn vị hành chính cấp trên: ở xã chỉ có HĐND và UBND thực hiện việc quản lý địa phương. Trong đó HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước, là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa phương và UBND là cơ quan chấp hành và đồng thời là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương mà không có các cơ quan tư pháp như: Viện kiểm sát và Tòa án. Vì thế, chính quyền cấp xã 6 phải quản lý nhà nước về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng theo thẩm quyền do pháp luật quy định. Ba là: Chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, là cấp đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tế cuộc sống.
Ngoài việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã nói chung, chính quyền cấp xã còn phải căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương mình chủ động đưa ra các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng; vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; chủ động đưa những tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất để tăng năng suất lao động, phát triển ngành nghề mới, tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm của địa phương, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống của nhân dân địa phương. Bốn là: Trong hoạt động của chính quyền cấp xã, giữa HĐND và UBND khó tách biệt nhau về các lĩnh vực thẩm quyền và UBND có ưu thế vượt trội: Chính quyền cấp xã được coi là một cấp chính quyền hoàn chỉnh, bao quát toàn diện đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa bàn cơ sở. Nội dung các nghị quyết HĐND và quyết định của UBND nhìn chung là giống nhau, chỉ khác ở chỗ: HĐND quyết định biện pháp, còn UBND tổ chức thực hiện. Trong khi đó, tổ chức bộ máy của HĐND không đủ sức hoạt động độc lập mà chủ yếu dựa và bộ máy của UBND để soạn thảo các nghị quyết.
Theo điều 5, Luật Tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) quy định: “Hội đồng nhân dân cấp xã có Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân”. Đối với cấp tỉnh và cấp huyện: “Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có Thường trực Hội đồng nhân dân và các ban của Hội đồng nhân dân”. Với cơ cấu tổ chức như trên, các ban của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện có khả năng soạn thảo các nghị quyết, thực hiện chức năng quyết định các biện pháp, chủ trương về các vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐND cấp tỉnh, cấp huyện. Trong khi đó, ở cấp xã, do không có bộ máy giúp việc, đại biểu HĐND lại kiêm nhiệm, việc chuẩn bị các kỳ họp hoàn toàn dựa vào bộ máy của UBND 7 và mỗi năm chỉ họp từ 3 đến 4 lần.
Trong điều kiện đó, UBND sẽ có ưu thế vượt trội hơn, dễ lấn át Hội đồng nhân dân và dễ lâm vào tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Năm là: Các đơn vị hành chính cấp xã, được hình thành trên nền tảng những địa điểm quần cư, nó liên kết dân cư trong một khối liên hoàn thống nhất. Mọi vấn đề của địa phương đều liên quan chặt chẽ với nhau và cần phải được giải quyết trên cơ sở kết hợp hài hòa các lợi ích: Nhà nước, dân cư và giữa dân cư với nhau, chính quyền ở đây không chỉ là cơ quan cai trị - quản lý còn là cơ quan thể hiện lợi ích chung của dân cư. Trong khi tổ chức quyền lực nhà nước ở cấp trung ương có việc phân chia, hoặc phân công phân nhiệm vụ một cách rạch ròi giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Cấp tỉnh, cấp huyện cũng có cơ quan tư pháp – Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân. Riêng cấp xã, trong cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền chỉ có HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương và UBND là cơ quan chấp hành của HĐND và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, thậm chí UBND cấp xã, phường, thị trấn trong nhiều trường hợp còn phải kiêm nhiệm luôn cả chức năng tư pháp (xét xử, hòa giải). Phân loại các đơn vị hành chính cấp xã Cấp xã là cấp cuối cùng trong hệ thống hành chính 4 cấp. Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2012, nước ta có 11.121 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm: 1.448 phường, 623 thị trấn và 9.
Qua hơn 25 năm đổi mới, chúng ta đã thu được nhiều thành tựu về kinh tế, đây là nền tảng cho việc đổi mới hệ thống chính trị, trong đó có đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cơ sở. Đổi mới hệ thống chính trị trở thành xúc tác, động lực cho đổi mới kinh tế thu được kết quả. Một trong những yếu tố góp phần nâng cao vai trò của chính quyền cơ sở trong việc quản lý xã hội là Đảng, Nhà nước ta đã xác định được tiêu chí phân loại đơn vị hành chính cấp xã trên cơ sở các điều kiện tự nhiên, xã hội, địa lý, phong tục, tập quán. 8 Dựa trên các tiêu chí cụ thể, xã, phường, thị trấn được phân làm 3 loại đơn vị hành chính.
Theo Nghị định số 159/2005 ngày 27/12/2005 của Chính phủ về phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn gồm: - Xã, phường, thị trấn loại 1; - Xã, phường, thị trấn loại 2; - Xã, phường, thị trấn loại 3. Tiêu chí phân loại: Gồm 3 tiêu chí sau: Dân số; Diện tích; Các yếu tố đặc thù. Thông qua việc tính điểm để chúng ta phân loại chính quyền cấp xã như sau: - Đối với xã miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Về dân số: Xã có dân số dưới 1.000 nhân khẩu được tính 45 điểm; xã có từ 1.000 nhân khẩu, cứ tăng 1.000 nhân khẩu được tính thêm 12 điểm và được tính từ 46 đến 93 điểm; xã có trên 5.000 nhân khẩu, cứ tăng 1.000 nhân khẩu được tính thêm 11 điểm và được tính từ 94 đến tối đa không quá 200 điểm.
Về diện tích: Xã có diện tích tự nhiên dưới 1.000 ha được tính 30 điểm; xã có từ 1.000 ha, cứ tăng 1.000 ha được tính thêm 10 điểm và được tính từ 31 đến 50 điểm; xã có trên 3.000 ha, cứ tăng 1.000 ha được tính thêm 09 điểm và được tính từ 51 đến tối đa không quá 100 điểm. Đội ngũ cán bộ công chức chính quyền xã 1.