Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Nêu các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày cơ sở lý thuyết, các khái niệm có liên quan đến dịch vụ và chất lượng dịch vụ ngân hàng thương mại. Tác giả trình bày một số mô hình đo lường chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực ngân hàng, giới thiệu một số nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan, khoảng trống cần làm rõ.
Trình bày các yếu tố tác động đến chất lượng dịch vụ ngân hàng; xây dựng thang đo và mô mình nghiên cứu được áp dụng. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày quy trình nghiên cứu, mẫu và công cụ nghiên cứu; phương pháp thu thập và phân tích số liệu. Xây dựng thang đo chính thức của nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Giới thiệu về Vietcombank, Vietcombank Bình Dương, tình hình kinh doanh của Vietcombank Bình Dương.
Phân tích đánh giá độ tin cậy của thang đo; phân tích EFA và mô hình hồi quy, kiểm định các giả thuyết và sự phù hợp của mô hình. Chương 5: Kết luận và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ tại ngân hàng Vietcombank – chi nhánh Bình Dương Cơ sở đề xuất giải pháp, nêu lên kết quả của nghiên cứu làm cơ sở đề xuất một số giải nâng cao chất lượng dịch vụ tại ngân hàng Vietcombank – chi nhánh Bình Dương. Đồng thời, trình bày những hạn chế của đề tài nghiên cứu và định hướng cho nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DỊCH VỤ VÀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 2.1 Khái niệm, đặc điểm của dịch vụ 2.1 Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một trong những ngành không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội tuy nhiên dịch vụ luôn giữ một vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngày nay dịch vụ càng chiếm vị trí quan trọng và có sự đóng góp rất lớn cho sự phát triển của nền kinh tế thế giới cũng như kinh tế Việt Nam. Ở nước ta, dịch vụ đang là một trong những ngành mũi nhọn, đang được đầu tư có trọng điểm và chiều sâu trong chiến lược phát triển kinh tế. Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra quan điểm của mình về dịch vụ, một số nghiên cứu điển hình như: Quan điểm của Philip Kotler (1997), “Dịch vụ là mọi hoạt động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yếu là vô hình, không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể gắn hay không gắn với một sản phẩm vật chất”.
Quan điểm của Heizer và Render (1999), “Các hoạt động kinh tế sản xuất đặc thù một sản phẩm vô hình như giáo dục, vui chơi giải trí, thực phẩm và chỗ ở, giao thông vận tải, bảo hiểm, thương mại, chính phủ, tài chính, bất động sản, y tế, sửa chữa và bảo trì”. Quan điểm của ISO 9004, “Dịch vụ là kết quả của ít nhất một hoạt động cần được tiến hành tại nơi tương giao giữa người cung cấp và khách hàng và thường không hữu hình”. Quan điểm của Zeithaml và Britner (2000), “Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. 5 Quan điểm của Kotler và Armstrong (2004), “Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng”.
Quan điểm của Edvardsson (2005), “Dịch vụ là quy trình sản xuất và tiêu thụ mà có sự tham gia của khách hàng”. Dịch vụ cuãng được hiểu là các trải nghiệm về các phương pháp làm hài lòng khách hàng (Tyagi và Gupta, 2008). Tóm lại, các khái niệm trên cơ bản là giống nhau vì đều nêu ra đặc điểm cơ bản của dịch vụ là các hoạt động, hành vi nhằm tạo ra giá trị, thoả mãn nhu cầu của khách hàng và dịch vụ khác với các sản phẩm hữu hình, dịch vụ thường là vô hình, phi vật thể. Dịch vụ bao gồm các hoạt động kinh tế sản xuất đặc thù một sản phẩm vô hình.2 Đặc điểm của dịch vụ Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ hầu hết đều tập trung nghiên cứu sự khác nhau giữa các đặc điểm của sản phẩm, dịch vụ.
Theo Parasuraman, Zeithaml và Berry (1985), dịch vụ được phân biệt với sản phẩm thông thường bởi bốn đặc điểm sau: - Tính đồng thời, không chia cắt (Inseparability) Quá trình cung cấp dịch vụ là quá trình xảy ra liên tục. Điều đó có nghĩa là quá trình cung cấp và tiếp nhận dịch vụ xảy ra đồng thời với sự hiện diện của khách hàng. Nếu chưa có khách hàng thì chưa thể tạo dịch vụ. Do vậy, chất lượng dịch vụ sẽ rất khó đoán trước mà sẽ dựa theo phán đoán chủ quan.
Ngoài ra, chúng ta không thể tích lũy hay dự trữ dịch vụ cũng như không thể kiểm nghiệm trước. - Tính không đồng nhất, không ổn định (Heteregoneity) Dịch vụ được tạo ra bởi nhiều nhà cung cấp khác nhau, tại những thời gian và không gian khác nhau và có cả sự can thiệp của khách hàng trong quá trình tạo ra dịch vụ nên đã tạo ra tính không ổn định của dịch vụ. Do đó, khó có thể kiểm tra trước chất lượng dịch vụ, gây ra khó khăn trong quản lý chất lượng của dịch vụ. - Tính vô hình của dịch vụ (Intangibility) 6 Sản phẩm dịch vụ khác với các sản phẩm vật chất cụ thể ở chỗ là dịch vụ không thể cầm, nắm, nghe hay nhìn trước khi mua.
Khách hàng chỉ nhận được sản phẩm dịch vụ khi nó được cung cấp. - Tính mong manh, không lưu giữ (Perishability) Bởi vì tính vô hình của sản phẩm dịch vụ mà dịch vụ được cho là rất mong manh, không thể định hình và dự trữ như là các sản phẩm vật chất đang tồn tại trong lưu thông. Theo Gronross (1984), dịch vụ có 5 đặc điểm, đó là: - Tính đồng thời: sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời. Vì vậy, hầu như rất khó để thấy được những sai sót và sửa chữa trước.
Sản phẩm lỗi có thể làm lại được, dịch vụ thì chỉ có thể sửa sai, nhưng khi khách hàng nhận được sản phẩm lỗi thì đồng nghĩa rằng họ đã nhận được dịch vụ không tốt. - Tính không tách rời: sản xuất và tiêu dùng dịch vụ không thể tách rời nhau. Dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng tại cùng một thời điểm. - Tính thay đổi: các dịch vụ không có chất lượng đồng nhất, dịch vụ có tính thay đổi rất lớn do phụ thuộc vào người cung cấp, thời điểm và nơi được cung cấp dịch vụ.
- Tính vô hình: dịch vụ không có hình dáng rõ rệt, không thể cân, đo, đong, đếm, thử nghiệm hoặc kiểm định trước khi mua. - Tính không lưu trữ: các sản phẩm dịch vụ không có tồn kho và không đồng bộ về mặt thời gian.2 Chất lượng dịch vụ Chất lượng sản phẩm là hữu hình còn chất lượng dịch vụ là một yếu tố vô hình và là một phạm trù rộng. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ, tuy nhiên, bản chất của chất lượng dịch vụ nói chung được xem là những gì mà khách hàng cảm nhận được. Mỗi khách hàng có nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng khác nhau.
Quan điểm của Gronroos (1984), chất lượng dịch vụ được đánh giá trên hai khía cạnh: chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng. Chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ còn chất lượng chức năng nói lên chúng 7 được phục vụ như thế nào. Dịch vụ cung cấp tốt hay không là tùy thuộc vào người cung cấp dịch vụ qua thái độ, quan hệ bên trong công ty, hành vi, tinh thần phục vụ, sự biểu hiện bên ngoài, tiếp cận và tiếp xúc khách hàng. Muốn tạo dịch vụ tốt, phải có sự giao thoa giữa chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng.
Theo TCVN ISO 9001:2000, “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của một sản phẩm, hệ thống hoặc quá trình thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”. Theo TCVN ISO 9001:2007, “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu”. Theo Deming (1982), một trong những chuyên gia hàng đầu của Mỹ về chất lượng: “Chất lượng là mức độ dự đoán trước về tính đồng nhất (đồng dạng) và có thể tin cậy được, tại mức chi phí thấp và thị trường chấp nhận”. Theo Parasuraman và cộng sự (1988): “Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ”.
Parasuraman cho rằng kỳ vọng trong chất lượng dịch vụ là những mong muốn của khách hàng, nghĩa là họ cảm thấy nhà cung cấp phải thực hiện chứ không phải sẽ thực hiện các yêu cầu của dịch vụ. Bên cạnh đó, quan điểm của Lehtinen (1982) lại cho rằng, chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh: (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của dịch. Nguyễn Thị Kim Huệ (2020) cho rằng, chất lượng dịch vụ là cảm nhận của khách hàng về khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ sẽ được cung cấp và nhận thức của họ khi đã sử dụng dịch vụ ngân hàng. Tóm lại, có thể kết luận chất lượng dịch vụ là khả năng đáp ứng dịch vụ hiện có đối với sự kỳ vọng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ, nói cách khác chất lượng dịch vụ là toàn bộ những hoạt động, lợi ích tăng thêm mà nhà cung cấp mang lại cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng quan hệ đối tác lâu dài với khách hàng thông qua việc tạo nên sự hài lòng cho khách hàng.2 KHÁI NIỆM NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Rose và Hudgins (2008), “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết 8 kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.