Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Giới thuyết khái niệm 1. Dạy học Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, thì: “Dạy là truyền lại tri thức hoặc kỹ năng một cách ít nhiều có hệ thống, có phương pháp” và “Học là thu nhận kiến thức, luyện tập kỹ năng do người khác truyền lại” [29, tr. Theo tác giả Phạm Viết Vượng, trong cuốn Giáo dục học, “Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là một trong những con đường để thực hiện mục đích giáo dục” [47, tr.
Khi nghiên cứu về dạy học, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, trong Giáo dục học Đại học (tài liệu bồi dưỡng dùng cho các lớp giáo dục học đại học và nghiệp vụ sư phạm) quan niệm: “Dạy học là quá trình cộng tác giữa thầy và trò luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau để truyền đạt - điều khiển và lĩnh hội- tự điều khiển tri thức nhằm tạo cho người học khả năng phát triển trí tuệ, hoàn thiện nhân cách” [25, tr. Qua những cách giải thích nêu trên, có thể hiểu khái niệm về dạy học, đó là: quá trình tương tác giữa người dạy và người học, trong đó người dạy giữ vai trò chủ đạo thông qua các hoạt động tổ chức để truyền đạt kiến thức cho người học, còn người học chủ động, tích cực tự điều chỉnh hoạt động nhận thức của bản thân nhằm lĩnh hội kiến thức, nhằm hướng tới mục đích dạy học. Hát Qua một số tài liệu: Phương pháp hát tốt tiếng việt trong nghệ thuật ca hát, Trần Ngọc Lan (2011), Nxb Giáo dục, Hà Nội; Âm nhạc và phương pháp dạy học âm nhạc, Hoàng Long (chủ biên), Nxb Giáo dục,TP. HCM; Phương pháp sư phạm thanh nhạc, Nguyễn Trung Kiên (2001), Nxb Văn hóa, Hà nội; 8 Sách học thanh nhạc, Mai Khanh (1997), Nxb Trẻ… Khái niệm về hát, dù là dùng trong đào tạo hát cho các ca sĩ chuyên nghệp, cho giáo viên hay cho học sinh các cấp học phổ thông., hầu hết đều được các tác giả cho rằng hát đồng nghĩa với ca hát.
Trong cuốn Phương pháp sư phạm thanh nhạc của Nguyễn Trung Kiên, tác giả giải thích: “Ca hát là bộ môn nghệ thuật phối hợp âm nhạc và ngôn ngữ (.) giọng hát là một nhạc cụ sống (.) nghệ thuật ca hát thành phương tiện truyền cảm giáo dục tư tưởng, đạo đức, thẩm mĩ và giải trí vô cùng quan trọng” [17, tr.7] Từ những quan niệm về Hát của các tác giả, đồng thời qua thực tế quá trình học tập của bản thân được đào tạo ở các trình độ như: Cao đẳng Sư phạm Âm Nhạc, Đại học biểu diễn Thanh nhạc, Thạc sĩ Lý luận và phương pháp dạy học Âm nhạc, chúng tôi thấy tất cả các GV giảng dạy thanh nhạc đều dùng khái niệm Hát và Ca hát như trên. Chúng tôi cũng hoàn toàn đồng tình với quan điểm đó, Hát đồng nghĩa với Ca hát. Phương pháp Khái niệm về phương pháp, có nhiều cách giải nghĩa khác nhau. Theo https://vi.org: “Phương pháp là lề thói và cách thức phải theo để tiến hành công tác với kết quả tốt nhất”; hay “Phương pháp là cách thức tổ chức học tập và làm việc theo chiều hướng tích cực” [59].
Trong cuốn Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, Phan Trọng Ngọ đã trình bày “Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp “Metodos”, có nghĩa là con đường, cách thức vận động của một sự vật, hiện tượng” [28, tr. Còn theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, tác giả Như Ý cho rằng: “Phương pháp là cách thức hay quy trình có tính hệ thống, thứ tự để đạt đến một số mục tiêu nào đó” [50, tr. Hay tác giả Nguyễn Văn Hộ và Hà Thị 9 Đức, thì “Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới một mục đích nhất định, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định” [11, tr. Từ những khái niệm như trên, có thể hiểu PP là cách thức, là con đường để đạt đến mục đích một cách hiệu quả nhất.
Tuy nhiên, không có PP nào là tối ưu nhất nên mỗi đối tượng, mỗi sự việc cần lựa chọn một PP phù hợp và cần linh hoạt khi phối hợp giữa các PP. Phương pháp dạy học Tác giả Phan Trọng Ngọ đã định nghĩa về PP dạy học trong cuốn Dạy học và PP dạy học trong nhà trường như sau: “Định nghĩa chung nhất về phương pháp dạy học là những con đường, cách thức tiến hành hoạt động dạy học” [28, tr. Cũng về PP dạy học, trong cuốn Giáo dục học của tác giả Phạm Viết Vượng định nghĩa: “Phương pháp dạy học được hiểu là tổ hợp các cách thức phối hợp hoạt động chung của giáo viên và học sinh nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo” [47, tr. Có thể thấy rằng, đặc trưng của PP dạy học là: luôn gắn với định hướng và mục đích dạy học, đồng thời giữa cách dạy của giáo viên và cách học của học sinh luôn có một sự thống nhất.
PP dạy nhằm tạo ý thức học tập và rèn luyện các kỹ năng cho SV; còn PP học của SV là vận dụng PP để phát triển năng lực của bản thân có định hướng. Mặt khác, PP dạy học luôn có sự thống nhất giữa nội dung dạy học, có sự thống nhất giữa cách thức hành động và phương tiện dạy học; và tất nhiên, PPDH luôn có mặt chủ quan và khách quan [37, tr. Trong luận văn này, có thể giải thích quan niệm về PP dạy học một cách phù hợp, đó là: những hình thức, cách thức tổ chức hoạt động của giáo viên và học sinh nhằm đạt được những mục tiêu của quá trình dạy học. Kỹ năng Khi nói về khái niệm kỹ năng, tùy theo quan niệm cá nhân và góc nhìn chuyên môn của từng người mà đưa ra các khái niệm khác nhau.
Dù vậy, giữa các khái niệm ấy đều chung một cách nhìn là khi lý thuyết được áp dụng vào thực tiễn sẽ hình thành kỹ năng và kỹ năng thì luôn có chủ đích và được định hướng rõ ràng. Theo Hà Nhật Thăng, Lê Quang Sơn (2010) trong Rèn luyện kỹ năng sư phạm thì: “Kỹ năng là cách thức vận động và sáng tạo các biện pháp tổ chức, điều khiển quá trình hoạt động…” [34, tr. Trên trang http://lethanhtrong.com/ren-luyen-ky-nang-nhu-the-nao, Kỹ năng được giải thích: “…là năng lực hay khả năng của người học thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) và thái độ nhằm tạo ra kết quả mong đợi” [60]. Như vậy, có thể hiểu, kỹ năng là khả năng thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động mà người học có được từ việc lặp đi lặp lại các kiến thức một cách có ý thức nhằm tạo ra kết quả mong đợi.
Năng lực Trong đề tài Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo hướng tiếp cận năng lực, tác giả Đỗ Ngọc Thống viết: “năng lực có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài…” [64]. Ở một góc nhìn khác, khi nói về khái niệm năng lực, trong “Hội nghị chuyên đề về những NL cơ bản của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - Organization for Economic Cooperation and Development), F.Weinert cho rằng “NL được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự 11 thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể”. Cũng tại diễn đàn này, J.Coolahan quan niệm: NL là “những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành GD” [63] (NL trong đoạn trích dẫn là ký hiệu viết tắt của từ “năng lực” được chúng tôi trích nguyên văn).
Như vậy, dù các quan niệm về năng lực có nhiều cách trình bày khác nhau, nhưng nhìn chung giữa các quan niệm ấy đều có những điểm chung. Vì vậy, có thể đi đến giải thích về khái niệm năng lực: đó là khả năng thực hiện/làm việc dựa trên các hiểu biết chắc chắn, kỹ năng thuần thục và thái độ phù hợp. Đó cũng chính là những giá trị được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân. Đặc điểm và vai trò học phần Nhạc cơ sở trong chương trình đào tạo giáo viên mần non.
Đặc điểm của học phần Trong chương trình đào tạo ngành Sư phạm Mầm non, trình độ cao đẳng ở trường CĐSPTW Nha Trang, học phần Nhạc cơ sở được bố trí ngay học kỳ 1 của năm thứ nhất - lúc sinh viên bắt đầu nhập học (như đã trình bày ở “Lý do chọn đề tài”). Sau học phần này, SV sẽ được tiếp tục học các học phần âm nhạc khác. Nội dung học phần Nhạc cơ sở bao gồm hai phần chính: các kiến thức về LTANCB và thực hành các bài hát mầm non. Về tổng quát, các kiến thức về LTANCB ở đây không đi sâu vào phần hợp âm và điệu thức, như trong chương trình đào tạo SV CĐSP âm nhạc tại trường.
Nội dung lý thuyết chỉ tập trung vào giải quyết các kiến thức cơ bản về cao độ, trường độ và nhịp phách để SV có thể thực hành được âm nhạc một cách cơ bản nhất. Các bài tập đi kèm với lý thuyết để rèn cho SV kỹ năng thực hành học phần và vận dụng vào 12 thực hành các học phần âm nhạc khác, sau mỗi tiết lý thuyết là các tiết thực hành bài hát. Sinh viên sẽ được hướng dẫn thực hành hát kết hợp với vỗ tay theo nhịp, theo phách và theo tiết tấu của bài, thực hành hát và đánh nhịp các bài hát nhịp hai, ba và bốn phách đơn giản. Đối với phần nội dung về LTANCB Ở các bài học đầu tiên về Cao độ, SV được hướng dẫn cách xác định tên nốt nhạc trên khóa Sol (dòng 2); xác định sự tương quan về cao độ giữa các âm bậc trong thang âm; phân biệt chức năng và phạm vi ảnh hưởng của dấu hóa bất thường với dấu hóa biểu.
Sau khi nắm các nội dung lý thuyết, SV được vận dụng thực hành trực tiếp vào các bài hát mầm non để nhằm: nhận biết tên nốt trong các bài hát và hướng dẫn đọc cao độ trước khi tập hát.