phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lƣợng đào tạo nghề. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng chất lƣợng đào tạo nghề ở trƣờng cao đẳng nghề công nghệ và nông lâm Phú Thọ. Chƣơng 4: Giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo nghề ở trƣờng cao đẳng nghề công nghệ và nông lâm Phú Thọ trong thời gian tới.
5 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ 1. Các khái niệm liên quan đến chất lƣợng đào tạo nghề 1. Đào tạo nghề 1. Khái niệm nghề Khái niệm nghề theo quan điểm ở mỗi quốc gia, mỗi tổ chức đều có sự khác nhau nhất định.
Cho đến nay thuật ngữ “nghề” đƣợc hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. + Khái niệm nghề ở Đức đƣợc định nghĩa: Là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải đƣợc đào tạo ở trình độ nào đó. + Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Nghề là một hình thức phân công lao động đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định. Ở Việt Nam, cũng có nhiều định nghĩa nghề đƣợc đƣa ra, chẳng hạn nghề là một hình thức phân công lao động, nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định [2,tr105 ].
Theo tác giả Nguyễn Hùng thì: “Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội” [4, tr. Từ điển Tiếng Việt (1998) định nghĩa: “ Nghề là công việc chuyên làm, theo sự phân công lao động của xã hội”. Nhƣ vậy nghề là một hiện tƣợng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại. Bởi vậy đƣợc nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều 6 góc độ khác nhau.
Hiện nay xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác động KHKT và văn minh nhân loại nói chung và về chiến lƣợc phát triển KT-XH của mỗi quốc gia nói riêng. Bởi vậy phạm trù "nghề" biến đổi mạnh mẽ và gắn chặt với xu hƣớng phát triển KT-XH của đất nƣớc. Khái niệm về đào tạo nghề Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội cần thiết. Hiện nay, đang tồn tại nhiều định nghĩa về đào tạo nghề (dạy nghề).
Một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đã đƣa ra một số khái niệm: Tác giả William Mc Gehee cho rằng: “Dạy nghề là những qui trình mà các công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập có kết quả các hành vi đóng góp vào mục địch và các mục tiêu của công ty”. Theo ông Max Forter (1979) khái niệm Dạy nghề phải đáp ứng bốn điều kiện: + Gợi ra những giải pháp cho ngƣời học; + Phát triển tri thức, kỹ năng và thái độ; + Tạo ra sự thay đổi trong hành vi; + Đạt đƣợc những mục tiêu chuyên biệt. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: “Dạy nghề là cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc nghề nghiệp được giao”. Hoặc có định nghĩa: Đào tạo nghề là một quá trình sƣ phạm có mục đích, có nội dung và phƣơng pháp nhằm trang bị cho học viên những năng lực cần thiết để họ có cơ hội tìm việc làm và có năng lực hành nghề theo yêu cầu của sản xuất, còn đƣợc gọi là năng lực thực hiện (NLTH).
NLTH là những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để ngƣời học/ngƣời lao động có thể thực hiện đƣợc tất cả các công việc của nghề đạt chuẩn quy định. 7 Ngày 29/11/2006, Quốc hội đã ban hành Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11. Trong đó viết: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc từ tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”. Khái niệm trên đã không chỉ dừng lại ở trang bị những kiến thức kĩ năng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản.
Điều này thể hiện tính nhân văn, tinh thần xã hội chủ nghĩa, đề cao ngƣời lao động ngay trong quan niệm về lao động chứ không chỉ coi lao động là một nguồn “Vốn nhân lực “, coi công nhân nhƣ cái máy sản xuất. Nó cũng thể hiện sự đầy đủ hơn về vấn đề tinh thần và kỉ luật lao động - một yêu cầu vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất với công nghệ và kĩ thuật tiên tiến hiện nay. Qua đó, ta có thể thấy Dạy nghề là hoạt động quan trọng để trang bị hành trang tri thức cho ngƣời lao động khi bƣớc vào thị trƣờng lao động; đồng thời cũng là điều kiện cần trong giải quyết việc làm cho ngƣời lao động, tuy nó không tạo ra việc làm ngay nhƣng nó lại là yếu tố cơ bản tạo thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc. Dạy nghề giúp cho ngƣời lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp để từ đó họ có thể xin làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp, hoặc có thể tự tạo ra công việc sản xuất cho bản thân.
Phân loại đào tạo nghề * Căn cứ vào đối tượng người học - Đào tạo mới: là quá trình đào tạo nghề cho những ngƣời chƣa có nghề. - Đào tạo lại: là quá trình đào tạo cho những ngƣời đã có nghề xong vì lý do nào đó nghề của họ không còn phù hợp nữa. - Đào tạo nâng cao trình độ lành nghề: nhằm bồi dƣỡng nâng cao kiến thức và kinh nghiệm làm việc để ngƣời lao động có thể đảm nhận đƣợc những công việc phức tạp hơn. 8 *Căn cứ vào thời gian đào tạo - Đào tạo ngắn hạn: có thể thực hiện 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng hoặc 1 năm tại các trung tâm dạy nghề, lớp dạy nghề độc lập hoặc gắn với cơ sở kinh doanh, dịch vụ, cơ sở giáo dục khác.
Qúa trình đào tạo ngắn hạn tổ chức theo hình thức học lý thuyết và thực hành theo lớp, kèm cặp tại xƣởng, tại nhà, lấy thực hành là chính, vừa học, vừa làm, chuyển giao công nghệ; đƣa kiến thức khoa học, công nghệ mới và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến. Đào tạo nghề ngắn hạn dành cho những ngƣời có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học. Các khóa học ngắn hạn cung cấp đầy đủ các yêu cầu kỹ năng, kiến thức của một nghề nhƣng ở trình độ thấp. Bên cạnh đó có khóa đào tạo ngắn hạn chỉ cung cấp một phần nội dung của nghề nghiệp, hoặc chỉ có tác dụng bổ trợ, cập nhật kiến thức, kỹ năng mới.
- Đào tạo dài hạn: đƣợc thực hiện từ 1 đến 3 năm tại các trƣờng dạy nghề, các trƣờng trung học chuyên nghiệp, trƣờng Cao đẳng, trƣờng Đại học có đủ điều kiện để tổ chức dạy nghề dài hạn. Đào tạo dài hạn thƣờng cung cấp đầy đủ các kiến thức, kỹ năng cơ bản để thực hiện một nghề nào đó. *Căn cứ vào trình độ đào tạo nghề - Quyết định 48/2002/QĐ- TTG ngày 11 tháng 4 năm 2002 về việc phê duyệt quy hoạch mạng lƣới dạy nghề giai đoạn 2002- 2010 quy định trình độ đào tạo: + Trình độ bán lành nghề: trang bị một số kiến thức, kỹ năng nghề nhất định. Tổ chức đào tạo cấp trình độ này nhằm cung cấp lao động cho nhu cầu phát triển ngành nghề đơn giản, doanh nghiệp vừa và nhỏ, chuyển đổi cơ cấu lao động tại chỗ, phát triển kinh tế trang trại, kinh tế gia đình và phát triển cơ hội có việc làm cho ngƣời lao động.
+ Trình độ lành nghề: ngƣời học đƣợc trang bị đầy đủ kiến thức lý thuyết tổng hợp và kỹ năng thực hành chuyên sâu giúp họ có khả năng đảm nhận đƣợc những công việc phức tạp. 9 + Trình độ cao: ngƣời học đƣợc hệ thống lý thuyết và kỹ năng thực hành đầy đủ mà họ còn đƣợc tiếp cận với những khoa học mới, với công nghệ tiên tiến, hiện đại từ đó họ có thể thực hiện công việc trên những thiết bị mới, những công việc cần trình độ cao và khéo léo. - Theo điều 6, điều 10, điều 17, điều 24, Luật dạy nghề, NXB Chính trị Quốc gia 2006 thì dạy nghề có ba trình độ đào tạo. + Trình độ sơ cấp nghề: trang bị cho ngƣời học nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề; có đạo đức, lƣơng tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe và tạo điều kiện cho ngƣời học sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn.
+ Trình độ trung cấp nghề: ngƣời học đƣợc trang bị kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; có thái độ nghề nghiệp; tạo điều kiện cho ngƣời học tự tạo việc làm, tìm việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn sau khi tốt nghiệp. + Trình độ cao đẳng nghề: trang bị cho ngƣời học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết đƣợc các tình huống phức tạp trong thực tế; có thái độ nghề nghiệp; tạo điều kiện sau tốt nghiệp ngƣời học có thể tìm việc làm, tự làm việc hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn. Các hình thức đào tạo nghề Một trong những nhiệm vụ quan trọng của kế hoạch đào tạo là xác định các hình thức đào tạo thích hợp. Hình thức đào tạo là cơ sở để xây dựng kế hoạch đào tạo, đồng thời cũng là cơ sở để tính toán hiệu quả kinh tế của đào tạo.