chương 1 và chương 2 với hai nguồn tài liệu đó là tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp. - Thu thập dữ liệu thứ cấp: Với phương pháp này luận văn có thể nghiên cứu chất lượng đào tạo nghề Bartender tại trường STHC bằng các báo cáo tong kết hàng năm của Trường Trung cấp Du lịch và Khách sạn Saigontourist về đào tạo nghề Bartender, các báo cáo khoa học, hội nghị hội thảo,đề tài, đe án, sách, báo chuyên ngành Bartender. - Thu thập dữ liệu sơ cấp: Phương pháp này được sử dụng đe phân tích cơ sở lý luận của hoạt động đào tạo nghề Bartender tại trường STHC, đánh giá và phân tích làm rõ thực trạng hoạt động đào tạo nghề Bartender tại trường STHC và so sánh với một số cơ sở dạy nghề nhà hàng khác trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. - Thiết kế các bảng câu hỏi trong phiếu điều tra các đoi tượng khác nhau với nội dung câu hỏi khác nhau: Phòng đào tạo (Bao gồm: Cán bộ quản lí nghề nhà hàng tại STHC, Giáo viên, Nhân viên), HSSV đang học, HSSV đà tốt nghiệp và một số cán 11 bộ quản lí tại các doanh nghiệp nhà hàng khách sạn tiếp nhận HSSV đang học ở trường và được cử đi thực tập.
Phương pháp phân tích thông tin: - Sau khi thu thập phiếu điều tra, khảo sát, luận văn sử dụng phần mềm Microsoft Excel để nhập dữ liệu và tính toán điểm trung bình của các nhận định. - Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh. Các phương pháp nghiên cứu này được sử dụng kết họp với nhau nhằm mục đích đảm bảo cho nội dung nghiên cứu cùa luận văn vừa có ý nghĩa lý luận vừa mang ý nghĩa thực tiễn và khoa học. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VÀN - về lý luận: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về nâng cao chất lượng đào tạo nghề Bartender.
Nêu ra và phân tích một so yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đào tạo nghề Bartender. Tổng hợp và phân tích các mô hình, phương pháp đào tạo nghề trong và ngoài nước. - về thực tiễn: Đề tài phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo và nêu ra những kết quả đạt được và những hạn chế và nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo nghề Bartender tại Trường Trung cấp Du lịch và Khách sạn Saigontourist. Đe tài đe xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề Bartender tai trường Trung cấp Du lịch và Khách sạn Saigontourist.
Ngoài ra đề tài còn là nguồn tài liệu tham khảo cho giáo viên, các nhà nghiên cứu khoa học liên quan tới nghề Bartender, các trường đào tạo nghề Bartender. CÁU TRÚC CỦA LUẬN VĂN Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được bố cục thành 03 chương như sau: Chương 1. Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỀN VÈ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ BARTENDER Chương 2. THỤC TRẠNG CHÁT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ BARTENDER TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP DU LỊCH VÀ KHÁCH SẠN SAIGONTOURIST 12 Chương 3.
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHÁT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ BARTENDER TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP DƯ LỊCH VÀ KHÁCH SẠN SAIGONTOƯRIST 13 CHƯƠNG 1. Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ BARTENDER 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Du lịch Luật Du lịch số 09/2017/QH14 ngày 19/6/2017 của quốc hội có hiệu lực thi hành 1/1/2018.
Trong luật này Du lịch được hiếu như sau: ''Du lịch ” là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dường, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác [13]. Tổ chức du lịch thế giới International Union of Offixial Travel Organization ( IUOT ) định nghĩa “Du lịch là tong họp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc vận hành và lưu trú của cá nhân hay tập thế mà ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ở ngoài nước họ với mục đích hòa bình, nơi họ đến lưu trú không phải lầ nơi làm việc của họ” [62]. Quán Bar ở Việt Nam chưa có một khái niệm nào quy định cụ thể , rõ ràng và bao quát hết về định nghĩa “Quán Bar”. Tuy nhiên, có the xem xét các nhận định có liên quan về “Quán Bar” như: Lịch sử về quán bar bắt đầu từ thế kỷ 19, khi các quán bar đầu tiên xuất hiện tại Châu Âu và Mỳ.
Những quán bar đầu tiên thường được thiết kế với kiêu dáng sang trọng, phục vụ rượu và các đồ uống có cồn cho khách hàng giàu có. Tuy nhiên, trong thập niên 1920, thời kỳ cấm rượu tại Hoa Kỳ đã khiến cho các quán bar phát trien mạnh mẽ hơn, khi những quán bar ngầm xuất hiện và trở thành nơi cung cấp rượu và đồ uống cho những người tiêu dùng bất họp pháp.Sau đó, các quán bar được phố biến khá rộng rãi trên toàn cầu, trở thành một điểm hẹn quen thuộc cho các vị khách đến thư giãn và gặp gỡ bạn bè, thậm chí là nơi the hiện phong cách thời trang và cá tính của mồi người [46]. 14 Theo "Cẩm nang nghề nghiệp Bartender" của tác giả Nguyễn Minh Trung, đuợc xuất bản năm 2019 bởi Nhà xuất bản Lao động - Xã hội. Trích dẫn: "Quán bar là một nơi tập trung các đồ uống cồn, rượu bia, cocktail, các loại đồ ăn nhẹ, với không gian thiết kế riêng biệt, thường có âm nhạc, ánh sáng và trang trí đặc trưng, đe khách hàng có the thư giãn, gặp gỡ bạn bè hoặc tán gẫu với những người lạ, và tận hưởng những trải nghiệm độc đáo khi thưởng thức các loại đồ uống" [42].
Theo bài báo "Tìm hiếu về quán bar: Phong cách, kiến trúc và dịch vụ" trên trang web Zing News, tác giả Lê Trần Phương Anh định nghĩa "Quán bar là một cửa hàng kinh doanh thức uống, đồ ăn nhẹ và thường được thiết kế với kiêu dáng, nội thất độc đáo, đẹp mắt, tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu cho khách hàng. Thường được đặt ở những khu vực đông dân cư, hoặc khu trung tâm thành phố, quán bar thường hoạt động vào ban đêm, tạo không gian giải trí, gặp gỡ bạn bè, thư giãn sau giờ làm việc" [63]. Vậy có thể nói bản chất của Quán Bar là một địa điếm kinh doanh thức uống, thức ăn và cung cấp dịch vụ giải trí trong một không gian thư giãn và thoải mái. Thông thường, quán bar sè phục vụ các loại đồ uống như rượu, bia, cocktail, đồ uống không cồn và cũng thường có menu đồ ăn nhẹ.
Quán bar thường được trang trí đẹp mắt và tạo không gian âm nhạc, đồng thời cũng cung cấp các dịch vụ như đặt bàn, phục vụ khách hàng, to chức tiệc tùng và sự kiện. Khái niệm nghề Theo điều 3 Luật Lao động năm 2019, nghề nghiệp được định nghĩa là hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nghiên cứu khoa học, giảng dạy, quản lý, bảo vệ, chăm sóc, điều trị và các hoạt động khác có tính chất đối tượng của con người, được thực hiện trên cơ sở đạo đức, tính pháp luật và tôn trọng đến nhân phẩm con người, phù hợp với sức khỏe, the lực và khả năng của từng người. Nghề có the là nghề đơn giản hoặc nghề phức tạp, nghề chính hoặc nghề phụ, nghe công nghiệp hoặc nghe thủ công. Nghề nghiệp bao gồm các công việc được quy định trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận làm việc giừa người lao động và người sử dụng lao động [30].
15 Điều 3, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Ban hành kèm theo Nghị quyết số 51/2020/ỌH14 của Quốc hội ngày 17 tháng 6 năm 2020. "nghề" được định nghĩa là hoạt động sản xuất hàng hoặc cung cấp dịch vụ, được thực hiện thường xuyên, chuyên nghiệp, phù họp với khả năng, điều kiện cùa người làm nghề, tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ có giá trị thương mại. Nghề bao gồm nghề tự do, nghề thủ công, nghề kỹ thuật, nghề chế tạo, nghề chuyên môn và các nghề khác theo quy định của pháp luật [31]. Theo Thống kê Lao động Hoa Kỳ (Bureau of Labor Statistics), "nghề" (occupation) được định nghĩa là một nhóm các công việc liên quan đến nhau, yêu cầu các kỹ năng, kiến thức và năng lực tương tự nhau.
Các nghề thường được xác định dựa trên các tiêu chí như loại công việc, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng, mức lương, tần suất việc làm và điều kiện lao động. Thống kê Lao động Hoa Kỳ cũng sử dụng hệ thống phân loại nghe của Mỹ (Standard) Occupational Classification) de phân tích và báo cáo về thị trường lao động. Nhìn chung "Nghề" là một hoạt động lao động được thực hiện bởi người có kỹ năng, truyền thống và kinh nghiệm trong một lĩnh vực cụ the. Các nghề thường yêu cầu một quá trình đào tạo hoặc học tập chuyên môn để có the thực hiện công việc hiệu quả và đạt được kết quả tốt nhất, nghề thường được học thông qua sự truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, và có thể bao gồm các kỹ năng thủ công hoặc chuyên môn trong các ngành công nghiệp khác nhau như xây dựng, nấu ăn, may mặc, điện tử, kỹ thuật cơ khí, và nhiều lình vực khác.
Nghề thường liên quan đen sự chuyên nghiệp và có the đóng góp đáng kể cho sự phát triến kinh tế và xã hội của một quốc gia. Nghề Bartender Hiện nay ở Việt Nam định nghĩa về ngành kỹ thuật pha chế đồ uống hay còn gọi là nghề bartender ở Việt Nam còn rất mơ hồ không rõ ràng. Tuy nhiên, trên các trang tuyên dụng, các nhà hàng, quán bar, khách sạn, đại lý bia rượu hay các cửa hàng kinh doanh đồ uống, thực phấm ở Việt Nam đều liệt kê nghề bartender là một trong các vị trí cần tuyến dụng. Nghề bartender ở Việt Nam có thể hiếu đơn giản là người 16 pha chế và phục vụ đồ uống tại các quán bar, các sự kiện, tiệc tùng hay nhà hàng, khách sạn.
Trong cuốn sách "The Bar Book: Elements of Cocktail Technique" của tác giả Jeffrey Morgenthaler, ông định nghĩa "Bartender là người chịu trách nhiệm pha che đồ uống và cung cấp dịch vụ cho khách hàng tại quay bar hoặc khu vực giải trí.