Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ VÀ CHIẾN SĨ TRONG LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN 1. Khái lược về chính sách công 1. Khái niệm chính sách công Chính sách công được tiếp cận nghiên cứu từ những góc độ khoa học khác nhau theo đó có những cách hiểu, xác định không hoàn toàn giống nhau về khái niệm và các thuộc tính của chính sách công. “Chính sách công là định hướng hành động do nhà nước lựa chọn để giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng phù hợp với thái độ chính trị trong mỗi thời kỳ nhằm giữ cho xã hội phát triển theo định hướng”.
Hay nói cách khác: “Chính sách công là một chuỗi các quyết định của nhà nước được thực thi trên thực tế nhằm giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định” [50]. Như vậy, chính sách công là thể hiện cụ thể của những chủ trương, quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Chính sách công giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định, không chỉ đề ra mục tiêu và các giải pháp với công cụ thực hiện nhằm giải quyết vấn đề đang đặt ra trong đời sống xã hội, mà còn giải quyết mối quan hệ giữa các bên tham gia chính sách. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chính sách công được hiểu là hệ thống các quyết định của Nhà nước trong giải quyết các vấn đề phát sinh của đời sống người dân, phù hợp với chủ trương, định hướng phát triển.
Chính sách công được triển khai qua chu trình chính sách với các bước thực hiện như: 8 Bước 1: Lập kế hoạch thực hiện chính sách công; Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền về chính sách; Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách; Bước 4: Điều chỉnh chính sách; Bước 5: Duy trì thực hiện chính sách; Bước 6: Kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách; Bước 7: Tổng kết, đánh giá thực hiện chính sách. Đặc điểm chính sách công Chính sách công có những đặc điểm: Thứ nhất, chính sách công được làm ra bởi nhà nước. Điều này có nghĩa nhà nước là chủ thể có thẩm quyền quyết định ban hành chính sách công, với những nguồn lực công để đảm bảo chính sách được làm ra theo cách tốt nhất có thể, và thực thi sao cho hiệu lực, hiệu quả. Thứ hai, chính sách có định hướng giải quyết vấn đề.
Cơ quan nhà nước nói chung có thẩm quyền quyết định lựa chọn chính sách thích hợp (nhưng rất nhiều trường hợp chưa hẳn là tối ưu) để giải quyết một vấn đề phát sinh trong thực tiễn. Nhưng những quyết định này không đảm bảo chắc chắn đúng hay duy nhất đúng. Thậm chí, quyết định chính sách có thể sai ngay từ đầu. Xác định được vấn đề công cộng để từ đó lựa chọn giải pháp là một vấn đề khó, trung tâm của quá trình hoạch định chính sách.
Thêm nữa, bản thân chính sách cũng là “vấn đề” của chính nó. Chính sách được làm ra, được thực thi, có thể thành công. Nhưng sự can thiệp từ chính sách cũng góp phần tạo ra sự biến đổi của các mối quan hệ xã hội, làm cho chính sách trở nên lạc hậu sau một thời gian, hoặc làm phát sinh các vấn đề mới, cần có sự thay đổi chính sách. Tuy nhiên, sự thay đổi chính sách có thể diễn ra nhanh, cũng có thể kéo dài hàng thập kỷ… Quan điểm chính thức về vấn đề chính sách, hoặc tập hợp các chính sách giải quyết một hay một số vấn đề, cũng có thể thay đổi qua từng thời kỳ.
9 Thứ ba, chính sách được làm ra thông qua một quá trình tương tác lẫn nhau giữa các chủ thể theo những quy tắc, trình tự, thủ tục, cấu trúc quyền lực phức tạp. Các chủ thể tham gia vào quá trình làm chính sách đến từ khu vực công và cả khu vực tư; là nhà chính trị, người nghiên cứu chính sách, đội ngũ công chức, các nhóm lợi ích hoặc bất kỳ ai (về mặt lý thuyết). Thông thường thì trình tự, thủ tục được quy định rõ trong luật, kể cả thủ tục trưng cầu dân ý. Ẩn sau quá trình phức tạp đó là những người có ảnh hưởng không nhỏ, làm công việc vừa mang tính kỹ thuật, lại vừa “nghệ thuật”, là phân tích chính sách (và đánh giá chính sách).
Những công việc phân tích này lại là cơ sở cho việc ra quyết định chính sách, và tác động đến mọi người trong xã hội. Ý nghĩa chính sách công Chính sách công có ý nghĩa chính trị, xã hội, pháp lý, khoa học và thực tiễn ở chỗ nó là chính sách của nhà nước, phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ, cách xử sự của nhà nước để phục vụ cho mục đích và lợi ích của nhà nước. Tính chínr trị của CSC biểu hiện rõ nét qua bản chất của nó là công cụ quản trị, quản lý của nhà nước, phản ánh bản chất, tính chất của nhà nước và chế độ chính trị trong đó nhà nước tổn tại. Nếu chính trị của nhà nước thay đổi, tất yếu dẫn đến sự thay đổi về chính sách.
Điều này khẳng định CSC mang tính chính trị hay ý nghĩa chính trị đậm nét. Tính pháp lý hay ý nghĩa pháp lý của CSC ở chỗ, chính sách của nhà nước được ban hành trên cơ sở pháp luật, nhưng pháp luật là của nhà nước nên CSC đương nhiên có ý nghĩa hay tính pháp lý. CSC dựa trên cơ sở của pháp luật cũng chính là dựa trên ý chí của nhà nước, chuyển tải ý chí của nhà nước thành chính sách, công cụ quan trọng để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Tính chất xã hội hay ý nghĩa xã hội của CSC thể hiện ở chức năng xã hội của CSC.
CSC là chính sách của nhà nước ban hành để thực hiện chức 10 năng xã hội của nhà nước, ngoài phục vụ lợi ích của nhà nước còn để phục vụ xã hội, phục vụ quảng đại quần chúng nhân dân, tạo điều kiện và định hướng cho xã hội phát triển. CSC có tính khoa học hay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực. Tính khoa học của CSC thể hiện ở tính khách quan, công bằng tiến bộ và sát với thực tiễn. Nếu CSC mang tính chủ quan duy ý chí của nhà nước sẽ trở thành rào cản kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Điều này cũng có nghĩa là việc ban lành CSC của nhà nước bất thành, sẽ ảnh hưởng đến uy tín và vai trò của nhà nước. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và chiến sĩ trong lực lượng công an nhân dân 1. Khái niệm, vị trí, chức năng của lực lượng Công an nhân dân 1. Khái niệm lực lượng Công an nhân dân Sự nghiệp bảo vệ an ninh - trật tự là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân ta, là trách nhiệm của Nhà nước, của các cấp các ngành và là nghĩa vụ của mỗi công dân.
Điều 64 hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định: “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân [35]. Do đó, xây dựng thế trận bảo vệ an ninh - trật tự toàn dân chính là quá trình xây dựng ba loại lực lượng: lực lượng CAND chính quy, lực lượng bảo vệ cơ quan xí nghiệp, bảo vệ dân phố, dân phòng bán chuyên trách; phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc. Trong ba lực lượng trên, lực lượng CAND là lực lượng nòng cốt, xung kích trên mặt trận đấu tranh chống bọn phản cách mạng và bọn tội phạm khác để bảo vệ an ninh - trật tự của đất nước. Lực lượng CAND từ khi ra đời đến nay, trải qua các thời kỳ của cách mạng, CAND không ngừng trưởng thành lớn mạnh và phát triển về mọi mặt.
Trong cách mạng tháng 8/1945 cùng với sự thiết lập chính quyền cách mạng của cả nước, ngành CAND ra đời và ngay lập tức cùng với toàn dân dưới sự 11 lãnh đạo của Đảng tiến hành trấn áp bọn phản cách mạng để bảo vệ chính quyền non trẻ, ổn định và giữ gìn trật tự xã hội đảm bảo cuộc sống cho nhân dân. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, CAND đã không ngừng củng cố hoàn thiện về tổ chức, thường xuyên nâng cao năng lực và phẩm chất cách mạng cho cán bộ chiến sĩ, nêu cao ý chí cách mạng kiên cường đoàn kết, cảnh giác, mưu trí dũng cảm, lực lượng CAND đã đóng góp phần mình phục vụ đắc lực cho hai cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Trong hòa bình xây dựng, đặc biệt là giai đoạn hiện nay, lực lượng Công an đang đứng trước nhiệm vụ nặng nề là phải đảm bảo ổn định an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, đem lại bình yên và cuộc sống yên vui lành mạnh hạnh phúc cho nhân dân, tạo điều kiện cho quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa xã hội góp phần để toàn Đảng, toàn dân ta thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh [2]. Quá trình trưởng thành và phát triển của lực lượng CAND là quá trình không ngừng củng cố và hoàn thiện về mọi mặt: chính trị tư tưởng, xây dựng bộ máy tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, xây dựng Đảng và các tổ chức quần chúng, xây dựng hậu cần cơ sở vật chất, xây dựng lực lượng chuyên trách làm công tác xây dựng lực lượng CAND.
Tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 22/2019/NĐ-CP quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong Công an nhân dân, có hiệu lực từ 15/04/2019, có quy định: Cán bộ, chiến sĩ Công an là sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật; hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ; học viên các học viện, trường Công an nhân dân; công nhân Công an; công dân được tạm tuyển và lao động hợp đồng trong Công an nhân dân [12]. Vị trí, chức năng của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam a) Vị trí của Công an nhân dân Nghị quyết số 40/NQ-TW của Bộ chính trị ban hành ngày 8/11/2004 về nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác Công an trong tình hình mới đã xác định: “Công an nhân dân là lực lượng vũ trang trọng yếu, nòng cốt, xung kích trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự”.