phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương. 12 z Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác chủ nhiệm lớp và việc quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường Trung học phổ thông Chƣơng 2: Thực trạng về công tác chủ nhiệm lớp và việc quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở một số trường THPT ngoại thành Hải Phòng nói chung và trường THPT Mạc Đĩnh Chi nói riêng Chƣơng 3: Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng công tác CNL tại trường THPT Mạc Đĩnh Chi, quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng 13 z Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP VÀ VIỆC QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan Khi đề cập đến công tác CNL đã có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, có thể kể đến các công trình tiêu biểu như: - Giáo dục học 2004 (Chương XVI.
Người GVCNL) của Phạm Viết Vượng. Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội. - Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường Trung học phổ thông của Hà Nhật Thăng(Chủ biên). Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2004.
- Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông của Hà Nhật Thăng(Chủ biên). Nhà xuất bản Giáo dục,2005. Một số không nhiều bài báo, tư liệu khác viết về công tác giáo viên chủ nhiệm lớp như: - Rèn luyện một số kỹ năng làm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên Cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh. Tạp chí Giáo dục số 126(11/2005) - Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên Cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh.
Tạp chí Giáo dục số 135(Kỳ 1 – 4/2006) - Quản lí công tác chủ nhiệm lớp. Ở Hải Phòng, công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT cũng được Hiệu trưởng và giáo viên các trường phổ thông quan tâm, song mới chỉ được chỉ đạo và thực hiện dựa trên kinh nghiệm cá nhân chứ chưa được hệ thống hóa một cách bài bản, việc quản lý công tác chủ nhiệm lớp cũng chưa được đề cập đến nhiều. Những khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục.
Những quan niệm về quản lý - Quản lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia trong mọi thời đại. - Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” - Quản lý là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu là các quan hệ quản lý. Đó là mối quan hệ hình thành giữa con người có liên quan đến hệ thống và được hình thành theo những quy luật nhất định. Quản lý là khoa học phân loại kiến thức, giải thích các mối quan hệ đặc biệt là mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý.
Một định nghĩa khác: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan. Chức năng quản lý Quản lý có 4 chức năng sau: chức năng kế hoạch hoá; chức năng tổ chức; chức năng chỉ đạo; chức năng kiểm tra. Bốn chức năng này được coi như bốn công đoạn tạo nên một chu trình quản lí. Chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, đan xen nhau và đều cần đến thông tin quản lí, hoạt động quản lí như một chu trình với các chức năng như sau: Khoa học quản lí đặt trên nền tảng phương pháp luận của triết học, chính trị học, điều khiển học, kinh tế học, văn hoá học, lí thuyết thông tin… Để làm một nhà quản lí, trước hết người ta phải được đào tạo, bồi dưỡng về khoa học quản lí thì mới mong làm đúng chứ chưa dám đề cập đến việc làm 15 z tốt công tác quản lí.
Bởi quản lí là một nghề, mà đã làm nghề thì phải được đào tạo ban đầu và bồi dưỡng thường xuyên, liên tục thì mới mong đáp ứng được yêu cầu của công việc trong bối cảnh xã hội thay đổi từng ngày, từng giờ như hiện nay. Giáo dục, quản lý giáo dục Giáo dục: * Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ con người. Giáo dục là một loại hình hoạt động cơ bản của xã hội loài người nhằm chuyển giao cho các thế hệ kế tiếp những giá trị vật chất và tinh thần của loài người đã được tích luỹ và phát triển trong nhiều năm đã và đang trở thành một nhu cầu không thể thiếu cho mỗi cá nhân và cả cộng đồng trong các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau. Giáo dục đứng ở trung tâm của sự phát triển vừa của cá nhân con người vừa của cộng đồng.
Giáo dục đã góp phần làm cho xã hội loài người không ngừng phát triển. Trong thời đại ngày nay sự tiến bộ của mỗi quốc gia đều phụ thuộc rất nhiều vào số và chất lượng của giáo dục mà nhân dân của mỗi quốc gia đó thừa hưởng. Vì giáo dục là tiên đề quan trọng cho sự phát triển của tất cả các lĩnh vực xã hội như chính trị, kinh tế, văn hoá , an ninh quốc phòng. Do vậy phải coi giáo dục là một bộ phận hữu cơ quan trọng nhất trong chiến lược qui hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong đó mục tiêu giáo dục phải được coi là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của sự phát triển.
Quản lí giáo dục có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của giáo dục. Người quản lí cần phối hợp sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực và tin lực của tổ chức để đạt được mục tiêu giáo dục. Khái niệm “ Quản lí giáo dục” chủ yếu có hai cấp độ là cấp vĩ mô và cấp vi mô. Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số định nghĩa về quản lí giáo dục: 16 z - Đối với cấp vĩ mô * Quản lý giáo dục: Theo Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [2; tr.
31] Quản lí giáo dục là quản lí một hệ thống xã hội hết sức năng động và phức tạp, nó không chỉ đơn thuần là sử dụng sức mạnh luật pháp mà còn sử dụng hàng loạt những biện pháp đối nhân xử thế để điều khiển, định hướng, điều chỉnh, tác động vào toàn bộ hệ thống thúc đẩy nó đạt tới mục tiêu mong muốn khả thi. Đối tượng của quản lí giáo dục chủ yếu là con người, đồng thời mục tiêu quản lí cũng chính là hình thành và phát triển nhân cách con người, do đó phương pháp quản lí lại càng trở nên phong phú, đa dạng và phức tạp hơn. Phải chăng quản lí giáo dục là một hệ thống có kế hoạch có mục đích của chủ thể quản lí đến đối tượng bị quản lí. Quản lí giáo dục chính là một quá trình tác động có định hướng của nhà quản lí giáo dục trong việc vận dụng những nguyên lí, phương pháp… chung nhất của khoa học quản lí vào lĩnh vực giáo dục nhằm đạt được những mục tiêu giáo dục đã đặt ra.
- Hay nói cách khác ở cấp vi mô thì quản lí giáo dục là quản lí nhà trường. Nhà trường được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục. Trường học là cơ quan hành chính nhà nước đồng thời là một tổ chức mang tính xã hội. Do đó quản lí trường học vừa có tính chất Nhà nước vừa có tính chất xã hội.
Nhà nước và xã hội cùng hợp tác chăm lo xây dựng và quản lí nhà trường. Quản lí Nhà nước các cấp phải nhằm mục đích tạo mọi điều kiện tối ưu cho sự phát triển của trường học, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo học sinh. * Theo Phạm Viết Vượng: Quản lí trường học là hoạt động của các cơ quan quản lí nhằm tập hợp và tổ chức hoạt động của giáo viên, học sinh và 17 z các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường. * Theo Trần Kiểm: “ Quản lí trường học có thể hiểu là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lí và có hướng đích của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm huy động và phối hợp sức lực và trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhỳa trường hướng tới hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến” [18, tr 27].
Tóm lại, quản lí trường học về bản chất là quản lí con người(tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh) và quản lí các nguồn lực cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục của nhà trường. Có thể hiểu quản lí nhà trườnglà hoạt động phối hợp điều hành của chủ thể quản lí- Hiệu trưởng đối với giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội liên quan nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường. Cụ thể là thúc đẩy phong trào đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mong muốn. Quản lý nhà trường, quản lí trường trung học phổ thông Quản lý nhà trường là một bộ phận trong quản lý giáo dục.
Nhà trường (cơ sở giáo dục) chính là nơi tiến hành quá trình giáo dục đào tạo có nhiệm vụ trang bị kiến thức cho một nhóm dân cư nhất định thực hiện tối đa một quy luật tiến bộ xã hội là: “Thế hệ đi sau phải lĩnh hội được các kinh nghiệm xã hội mà thế hệ trước tích luỹ và truyền lại, đồng thời phải làm phong phú thêm những kinh nghiệm đó” [ 9; tr.