CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại: 1.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng: Hoạt động cho vay ra đời và tồn tại xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quá trình tuần hoàn vốn, để giải quyết hiện tượng dư thừa, thiếu hụt vốn diễn ra thường xuyên giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Đất nước ngày càng phát triển, mức sống của người dân ngày càng cao, nhu cầu thỏa mãn trong cuộc sống hàng ngày không ngừng tăng lên, các NHTM phát hiện ra một thị trường tiềm năng đó là cho vay đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân. Theo Nguyễn Văn Tiến (2014,14): “Cho vay tiêu dùng là một hình thức tín dụng, qua đó ngân hàng cho khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình vay một lượng tiền nhất định để mua hàng hóa hay dịch vụ sử dụng vào mục đích tiêu dùng.” Theo Mai Văn Bạn (2011,23): “Cho vay tiêu dùng là loại cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân và hộ gia đình.” Theo Nguyễn Minh Kiều (2009,54): “Cho vay tiêu dùng là loại cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu và mua sắm tiện nghi sinh hoạt gia đình nhằm nâng cao đời sống dân cư.” Tuy các khái niệm có những cách diễn đạt khác nhau nhưng đều cùng thể hiện bản chất: “Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình trong một khoảng thời gian nhất định với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả nợ gốc và lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như: nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế… trước khi họ có đủ khả năng tài chính để hưởng thụ.2 Vai trò của cho vay tiêu dùng: Đối với nền kinh tế: CVTD là đòn bẩy kích cầu hàng hoá dịch vụ, mở rộng sản xuất, thúc đẩy tăng 5 trưởng kinh tế.
Nhờ đó, các cơ hội việc làm được tạo ra nhiều hơn, tỷ lệ thất nghiệp cũng như các tệ nạn xã hội giảm, đồng thời thu nhập của người dân tăng lên. Dịch vụ này của ngân hàng thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu của người tiêu dùng, do đó góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật chất cũng như tinh thần của họ. Rõ ràng, CVTD không chỉ có vai trò quan trọng đối với các chủ thể như người tiêu dùng, NHTM mà còn có ý nghĩa vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Đối với khách hàng: CVTD có ý nghĩa rất lớn đối với các khách hàng.
Nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân và hộ gia đình là rất lớn và thường xuyên nhưng không phải lúc nào họ cũng có đủ nguồn lực tài chính để đáp ứng các nhu cầu đó. Nhờ CVTD, họ được hưởng các tiện ích, được sử dụng các hàng hoá và dịch vụ mình mong muốn trước khi tích lũy đủ tiền. Khi đáp ứng đủ các điều kiện để được cấp CVTD, người đi vay có thể mua sắm các hàng hoá, nhất là các bất động sản ngay ở thời điểm hiện tại khi giá cả của chúng đang giảm, hoặc có thể đi du lịch đúng thời gian. Đặc biệt, trong các trường hợp chi tiêu cấp bách như nhu cầu về y tế, giáo dục., vai trò của CVTD lại càng to lớn và rõ nét.
Đối với ngân hàng thương mại: CVTD là loại hình mang lại nguồn lợi nhuận đáng kể cho ngân hàng bởi các món vay tiêu dùng thường được định giá cao hơn so với các món vay kinh doanh. Đây cũng là một cách để ngân hàng đa dạng hoá đầu tư, nhờ đó phân tán được rủi ro. Cung ứng dịch vụ này cũng giúp ngân hàng mở rộng, thắt chặt mối quan hệ với khách hàng, khai thác tiềm năng cũng như lòng trung thành từ khách hàng, từ đó có thể thu hút được nguồn vốn từ các khách hàng đi vay này khi họ có tiền nhàn rỗi. CVTD cũng góp phần làm phong phú thêm danh mục dịch vụ của ngân hàng, tăng khả năng cạnh tranh, quảng bá hình ảnh, nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị trường.3 Đặc điểm cho vay tiêu dùng: Thứ nhất, khách hàng vay là các cá nhân và hộ gia đình.
CVTD là hoạt động tài trợ, trong đó NHTM đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng để thực hiện các việc chi tiêu, phục vụ nhu cầu cuộc sống, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của khách hàng trước khi năng lực tài chính của khách hàng có thể thỏa mãn. Do đó, khác với 6 cho vay sản xuất kinh doanh, CVTD chỉ hướng tới phục vụ một nhóm đối tượng khách hàng duy nhất là dân cư bao gồm cá nhân và hộ gia đình trong nền kinh tế. Thứ hai, mục đích vay là nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình. Mục đích vay tiêu dùng là nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của cá nhân và hộ gia đình, không phải nhằm đáp ứng mục đích kinh doanh.
Do đó, mục đích vay tiêu dùng chỉ để chi tiêu nhưng có phụ thuộc vào nhu cầu của từng đối tượng khách hàng và chu kỳ kinh tế của người đi vay. Mức thu nhập và trình độ dân trí tác động lớn đến nhu cầu vay tiêu dùng. Những người có thu nhập cao có xu hướng vay nhiều hơn so với thu nhập hàng năm của mình. Đối với những người có trình độ học vấn cao, việc vay mượn là một công cụ để đạt được mức sống như mong muốn, chứ không phải là một lựa chọn chi tiêu trong trường hợp khẩn cấp.
Thứ ba, nguồn trả nợ thường được lấy từ thu nhập của khách hàng. Khách hàng vay tiêu dùng để đáp ứng chi tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống, vốn vay không trực tiếp tạo ra nguồn thu nên khách hàng phải sử dụng thu nhập sau thuế, lương thưởng của mình để trả nợ. Việc sử dụng tiền vay ngân hàng sẽ tạo cho người vay một tâm lý tích luỹ, tăng động lực làm việc của khách hàng. Thứ tư, quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lại lớn.
Thông thường không có một ngân hàng nào cho vay tiêu dùng với 100% nhu cầu vốn, khách hàng phải tích lũy một tỷ lệ nhất định so với tổng nhu cầu vốn cần đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng. Mặt khác, các sản phẩm mà khách hàng có nhu cầu tiêu dùng thường có giá trị không lớn. Nhu cầu vốn CVTD nhỏ hơn rất nhiều so với các món vay kinh doanh phổ biến, thường xuyên đối với mọi tầng lớp dân cư. Thứ năm, các khoản cho vay tiêu dùng có rủi ro cao.
Vì tình hình tài chính của các cá nhân và hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng tùy theo tình trạng công việc hay sức khoẻ của họ. Việc thẩm định và quyết định cho vay đối với các khoản vay tiêu dùng thường gặp khó khăn do vấn đề thông tin không đầy đủ. Thứ sáu, chi phí quản lý khoản vay tiêu dùng lớn. Do các ngân hàng thường phải tốn nhiều thời gian và nhân lực để điều tra, thu thập các thông tin về người vay tiền trước khi đưa ra các quyết định phê duyệt khoản vay.
Thêm vào đó việc quản lý các khoản vay tiêu dùng với giá trị nhỏ nhưng số lượng lớn cũng không phải là vấn đề đơn giản đối với các NHTM nên chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ CVTD cao 7 hơn so với loại hình cho vay khác. Thứ bảy, cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng. Các khoản CVTD có chi phí và rủi ro cao nên các khoản vay này thường có lãi suất cao để bù đắp cho các khoản vay trên và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Lãi suất CVTD luôn là một trong những lãi suất hấp dẫn nhất trên thị trường tài chính.
Do số lượng món vay nhiều nên lợi nhuận ngân hàng thu được từ hoạt động này là rất đáng kể so với tổng lợi nhuận của ngân hàng. Phân loại cho vay tiêu dùng: 1.1 Căn cứ vào thời hạn cho vay: Cho vay tiêu dùng ngắn hạn: Là khoản ngân hàng cho cá nhân, hộ gia đình vay vốn đáp ứng nhu cầu chi tiêu sinh hoạt với thời hạn từ 12 tháng trở xuống. Cho vay tiêu dùng trung hạn: Là khoản ngân hàng cho cá nhân, hộ gia đình vay vốn đáp ứng nhu cầu chi tiêu sinh hoạt với thời hạn vay trên 1 năm đến 5 năm. Cho vay tiêu dùng dài hạn: Là khoản ngân hàng cho cá nhân, hộ gia đình vay vốn đáp ứng nhu cầu chi tiêu sinh hoạt với thời hạn vay trên 5 năm.
Căn cứ theo mục đích vay vốn: Cho vay tiêu dùng cư trú: Là hình thức cho vay bất động sản dùng cho mục đích tiêu dùng, gồm các khoản cho vay để tài trợ cho việc mua căn hộ chung cư, xây dựng hay sửa chữa nâng cấp nhà ở… nhằm mục đích cư trú. Cho vay tiêu dùng cư trú thường có giá trị lớn và thời hạn dài. Cho vay tiêu dùng phi cư trú: Là hình thức cho vay động sản dùng cho mục đích tiêu dùng phi bất động sản như trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng sinh hoạt… Đặc trưng của các khoản vay này thường không lớn, thời hạn vay ngắn đến trung hạn. Căn cứ vào phương thức hoàn trả: Cho vay tiêu dùng trả góp: Là hình thức CVTD mà người đi vay trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng thành nhiều lần, theo định kỳ nhất định (thường là tháng hay quý) trong thời hạn cho vay.
CVTD trả góp thường áp dụng cho món vay có giá trị lớn, thời hạn vay dài hay khi thu nhập định kỳ của người vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần nợ vay. Cho vay tiêu dùng phi trả góp: Là hình thức CVTD mà việc trả nợ gốc và lãi 8 tiền vay cho ngân hàng chỉ xảy ra một lần khi đến hạn, thường áp dụng cho món vay nhỏ, thời hạn vay ngắn. CVTD phi trả góp thường tài trợ cho nhu cầu ngắn hạn như đi du lịch, chăm sóc y tế, mua sắm nội thất, vay sửa chữa nhà. Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Là hình thức CVTD mà ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai.