Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ QUẢN LÝ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng cán bộ quản lý trong doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Một số khái niệm * Khái niệm CBQL Có nhiều cách hiểu khác nhau về CBQL: Theo từ điển Anh Việt, CBQL là người điều hành hoạt động của các tổ chức kinh doanh theo một phương pháp nhằm thực hiện những chính sách và mục tiêu kinh doanh đề ra [10]. “Người thuộc về bộ máy điều hành DN là cán bộ gián tiếp, CBQL”.
Quan điểm này đã đồng nhất cán bộ gián tiếp và CBQL. “CBQL được hiểu là tất cả những cán bộ hoạt động trong bộ máy quản lý và tham gia vào việc thực hiện các chức năng quản lý”. Trên cơ sở này thì CBQL bao gồm giám đốc, phó giám đốc, trưởng phòng, phó phòng và các tổ trưởng các bộ phận trong bộ máy quản lý của công ty. “CBQL là những người thực hiện chức năng quản lý nhằm đảm bảo cho tổ chức đạt được những mục đích đặt ra với kết quả và hiệu quả cao”.
Để có cách hiểu thống nhất, trong bài viết này được hiểu theo cách giải thích: “CBQL là người nắm giữ một chức vụ trong bộ máy quản lý tại DN hoặc các đơn vị trực tiếp tham gia sản xuất kinh doanh trên thị trường”. CBQL là những người hoạt động trong bộ máy quản lý, thực hiện những chức năng và nhiệm vụ nhất định trong các quá trình quản lý của DN trên cơ sở quyền hạn nhất định. CBQL sản xuất kinh doanh là những người trực tiếp làm công tác quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh tại DN [4]. Từ những khái niệm trên có thể rút ra khái niệm chung về lực lượng CBQL: Lực lượng CBQL là một lực lượng cán bộ thực hiện chức năng quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh và thực hiện chức năng quản lý nói chung.
Trong DN, lực lượng CBQL được gắn kết với nhau bằng hệ thống các mục đích, mục tiêu chung là quản lý 5 tốt đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN đạt hiệu quả nhất, có cùng nhiệm vụ quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, cùng chịu sự ràng buộc bởi các quy tắc quản lý hành chính của Nhà nước, nội quy, quy chế hoạt động của DN. * Khái niệm chất lượng CBQL Chất lượng của đội ngũ CBQL trong DN được thể hiện ở cả đức và tài. Đức và tài là hai tiêu chuẩn cơ bản nhất của người CBQL. Chất lượng của đội ngũ CBQL trước hết phải có chuyên môn vững vàng, đạo đức trong nghề nghiệp cũng như trong cuộc sống, biết gắn kết lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân một cách hài hòa, am hiểu và tuân thủ pháp luật của Nhà nước trong quá trình điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của DN và được thể hiện cụ thể qua kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN [12].
Lực lượng CBQL luôn chiếm vị trí quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại đối với sự nghiệp của các DN. Vì vậy, lực lượng CBQL phải tự hoàn thiện đức và tài để quản lý đơn vị mình đạt hiệu quả cao. Đức được biểu hiện ở xu hướng và tính cách, khí chất của người CBQL. Tài năng của CBQL thể hiện qua năng lực của họ.
Năng lực của CBQL là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lý của những cá nhân nhất định, tham gia vào việc bảo đảm cho họ có thể chỉ huy, điều khiển, điều chỉnh công việc và mang lại những kết quả nhất định. Để làm quản lý giỏi, người CBQL phải có năng lực đặc biệt đó là năng lực chuyên môn giỏi hơn người khác và có khả năng lãnh đạo, kết nối con người trong một tập thể nhằm đạt được mục tiêu phát triển của DN. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “DN là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh của những chủ sở hữu (nhà nước, tập thể, tư nhân) về một hay nhiều ngành” [6].
Trong luật DN thì khái niệm DN được nêu lên là: DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh [6]. 6 Thông thường trong các văn bản pháp quy, thuật ngữ “Doanh nghiệp” được dùng để chỉ các chủ thể sản xuất kinh doanh có đăng ký, tức là DN pháp lý. Như vậy, khi các văn bản pháp luật hay các văn bản có nội dung chính sách của Chính phủ, dùng thuật ngữ “Doanh nghiệp” là để chỉ các “Doanh nghiệp pháp lý”, tức là có đăng ký với cơ quan nhà nước theo quy định. Khái niệm:“DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số cán bộ trung bình hàng năm không quá 300 người”.
Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2003 của Chính phủ đã quy định, các DNNVV bao gồm: - Các DN nhà nước có quy mô nhỏ và vừa đăng ký thành lập và hoạt động theo luật DN nhà nước. - Các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các DN tư nhân thành lập và hoạt động theo luật DN. - Các hợp tác xã có quy mô vừa và nhỏ, thành lập và hoạt động theo luật hợp tác xã. - Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh.
Các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa * Theo quan điểm của một số nước trên thế giới Theo tiêu chí của Ngân hàng thế giới, DN siêu nhỏ là DN có số lượng cán bộ dưới 10 người, DN nhỏ có số lượng từ 10 đến 50 người, DN vừa có từ 50 đến 300 cán bộ. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định DNNVV ở nước mình. Tại Mỹ, DNNVV được định nghĩa như sau: “DN nhỏ là một DN có quyền sở hữu độc lập, hoạt động độc lập và không phải là thành phần trội yếu của một ngành công nghiệp”. Tiêu chuẩn cụ thể của một DN nhỏ ở Mỹ phụ thuộc vào ngành hoạt động.
7 Chẳng hạn, nếu là ngành chế tạo DN có số lượng công nhân 250 người trở xuống sẽ thuộc loại DN nhỏ, DN nào có từ 1000 công nhân trở lên là lớn, DN có từ 250 – 1000 người là DN vừa. Những ngành khác thì căn cứ vào một số tiêu chuẩn như: DN nhỏ là DN có doanh số không quá 5% tổng số thương vụ đối với các ngành công nghiệp ít cạnh tranh; doanh số không quá 5 triệu USD hàng năm đối với các DN bán sỉ; có doanh số không quá 1 triệu USD hàng năm đối với DN bán lẻ. Tại Hàn Quốc, theo quy định DNNVV là các cơ sở thực hiện hoạt động sản xuất – kinh doanh tầm trung và tầm nhỏ dựa trên số lượng công nhân làm việc cho cơ sở ấy và tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh [1]. Phân loại các DNNVV ở một số nước Châu Á Bảng 1.
Phân loại các DNNVV ở một số nước Châu Á Tiêu thức áp dụng Quốc gia Số cán bộ Vốn kinh doanh < 100 người trong ngành công nghiệp Hồng Kông < 50 người trong ngành dịch vụ Indonesia < 100 người < 0,6 tỷ rupi Singapore < 100 người < 499 triệu dola Singapore Myanmar < 100 người Philipin < 200 người < 100 triệu peso Thái Lan < 100 người < 20 triệu bath < 50 người trong bán lẻ < 10 triệu yên Nhật < 100 người trong bán buôn < 30 triệu yên < 300 người ở các ngành khác < 100 triệu yên (Nguồn: Cục Phát triển DNNVV - Bộ Kế hoạch và đầu tư) Tóm lại, ở mỗi nước trên thế giới đều có những khái niệm khác nhau và các tiêu chuẩn khác nhau để thực hiện phân loại DNNVV. Nhưng một nét chung nhất là các nước đều dựa vào các tiêu thức về vốn, cán bộ hoặc doanh thu. Tùy thuộc vào điều kiện và thời điểm của mỗi nước mà các tiêu thức dùng để phân loại có thể là một hoặc hai trong ba tiêu thức trên. 8 * Ở Việt Nam Một số cơ quan nhà nước đưa ra các tiêu chí để xác định DNNVV như sau: 1) Theo Liên Bộ Tài chính–Thương binh xã hội có thông từ số 21/LĐTT ngày 17 tháng 6 năm 1993 qui định: DN nhỏ là DN có ít hơn hai trong ba tiêu chí sau: vốn pháp định nhỏ hơn 1 tỷ đồng, số cán bộ nhỏ hơn 100 người, doanh thu hàng năm nhỏ hơn 10 tỷ đồng.
Sự xác định này nhằm mục đích có chính sách đầu tư và quản lý. 2) Ngân hàng Công thương Việt Nam định nghĩa: DNNVV là các DN có dưới 500 cán bộ, có vốn cố định nhỏ hơn 10 tỷ đồng, có vốn lưu động nhỏ hơn 8 tỷ đồng, doanh thu hàng tháng nhỏ hơn 20 tỷ đồng. Sự xác định này nhằm mục đích phân loại đối tượng cho vay vốn và số vốn cho vay đối với các DN. 3) Quỹ hỗ trợ DN thuộc chương trình VN–EU cho rằng DNNVV là các DN có tổng giá trị tài sản không quá 2 triệu USD và có số cán bộ không quá 500 người.
4) Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 quy định: “DNNVV là các cơ sở sản xuất, kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí kinh doanh không quá 10 tỷ đồng hoặc có số cán bộ trung bình hàng năm không quá 300 người”. Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội của ngành, địa phương; trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai tiêu chí vốn và cán bộ hoặc một trong hai tiêu chí đó. [12] 5) Theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2011 của Chính phủ, qui định số lượng cán bộ trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là DNsiêu nhỏ, từ 20 đến 200 người cán bộ được coi là DNnhỏ và từ 200 đến 300 người cán bộ thì được coi là DNvừa. Như vậy, dựa vào mỗi một thời điểm khác nhau và mục đích khác nhau mà các tổ chức, cơ quan nhà nước và các cá nhân có tiêu thức để phân loại, xác định DNNVV cũng khác nhau.