Một số bài toán truyền sóng trong môi trường đàn hồi phân lớp - Luận văn

Bài toán truyền sóng trong môi trường đàn hồi phân lớp: Nghiên cứu các phương pháp giải và ứng dụng thực tế. Tìm hiểu sâu về sóng truyền trong môi trường phức tạp.

Chuyên ngành

Cơ học vật rắn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

44
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

Mục lục

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MA TRẬN CHUYỂN CỦA LỚP TRỰC HƯỚNG

1.1. Các phương trình cơ bản

1.2. Biểu diễn nghiệm

1.3. Ma trận chuyển

1.4. Kết luận chương

2. CHƯƠNG 2: SÓNG LAMB TRONG TẤM COMPOSITE HAI LỚP ĐÀN HỒI TRỰC HƯỚNG VỚI LIÊN KẾT LÒ XO

2.1. Phương trình tán sắc của sóng Lamb cho trường hợp nén được

2.2. Phương trình tán sắc của sóng cho trường hợp không nén được

2.2.1. Phương pháp giới hạn không nén được

2.3. Một số ví dụ số

2.4. Kết luận chương

3. CHƯƠNG 3: SÓNG LAMB TRONG TẤM SANDWICH ĐÀN HỒI TRỰC HƯỚNG VỚI LIÊN KẾT LÒ XO

3.1. Các phương trình tán sắc của sóng Lamb trong tấm sandwich trực hướng nén được

3.1.1. Điều kiện biên hiệu dụng

3.1.2. Phương trình tán sắc

3.2. Các phương trình tán sắc của sóng Lamb trong tấm sandwich trực hướng không nén được

3.2.1. Sóng Lamb trong tấm sandwich trực hướng với lớp lõi không nén được

3.2.2. Sóng Lamb trong tấm sandwich trực hướng với các lớp bề mặt không nén được

3.2.3. Sóng Lamb trong tấm sandwich trực hướng không nén được

3.3. Kết luận chương

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Bài Toán Truyền Sóng trong Môi Trường Đàn Hồi

Bài toán truyền sóng trong môi trường đàn hồi là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng, có nhiều ứng dụng thực tiễn trong khoa học và kỹ thuật. Đặc biệt, các cấu trúc bản phân lớp ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các ngành như hàng hải, giao thông, kỹ thuật hàng không vũ trụ và xây dựng dân dụng. Việc đánh giá các đặc trưng cơ học của các cấu trúc này, trước và trong quá trình sử dụng, là vô cùng cần thiết. Trong số các phương pháp đo khác nhau, phương pháp sử dụng sóng Lamb nổi lên như một công cụ hiệu quả.

Phương pháp này hoạt động bằng cách truyền sóng Lamb vào cấu trúc cần đo, sau đó xác định vận tốc truyền sóng. Một bài toán ngược được thiết lập để ước tính các tham số cơ học của cấu trúc dựa trên các giá trị vận tốc sóng đo được. Cơ sở toán học của bài toán này chính là phương trình tán sắc của sóng Lamb. Do đó, nghiên cứu sự truyền sóng Lamb trong các cấu trúc bản phân lớp có ý nghĩa to lớn trong thực tiễn. Mục tiêu chính của các nghiên cứu này là tìm ra phương trình tán sắc dạng hiện của sóng, xác định vận tốc sóng từ các tham số vật liệu và hình học của cấu trúc. Vận tốc sóng xuất hiện trong các biểu thức chuyển dịch và ứng suất, vì vậy việc xác định phương trình tán sắc là bước quan trọng. Các phương trình tán sắc cũng được sử dụng để kiểm tra tính đúng đắn của lý thuyết bản và để thiết lập các lý thuyết về bản sandwich với độ tương phản cao về độ dày và độ cứng của các lớp da và lõi.

Horace Lamb là người đầu tiên nghiên cứu và phát hiện ra sóng mang tên ông vào năm 1917. Ông đã nghiên cứu sự truyền sóng Lamb trong bản đàn hồi đẳng hướng nén được và tìm ra điều kiện tồn tại (tức phương trình tán sắc). Từ phương trình tán sắc, người ta thấy sóng Lamb là sóng tán sắc và có nhiều mode. Giải phương trình và hiểu được các đặc tính của sóng Lamb là một thách thức lớn. Mãi đến những năm 1960, khi máy tính số được sử dụng rộng rãi, người ta mới có thể hiểu đầy đủ các đặc tính của sóng. Hiện nay, phương pháp ma trận chuyển, phương pháp điều kiện biên hiệu dụngphương pháp giới hạn không nén được được sử dụng rộng rãi. Luận văn này tập trung vào việc tìm ra các phương trình tán sắc chính xác dạng hiện của sóng Lamb trong tấm composite hai lớp và tấm sandwich đàn hồi trực hướng nén được và không nén được với liên kết lò xo.

1.1. Vai Trò của Phương Trình Tán Sắc Sóng Lamb

Việc xác định phương trình tán sắc sóng Lamb đóng vai trò then chốt trong việc mô tả và dự đoán hành vi của sóng trong môi trường đàn hồi. Phương trình tán sắc không chỉ giúp xác định vận tốc sóng, mà còn là cơ sở để giải bài toán ngược, một bài toán quan trọng trong các ứng dụng thực tế, ví dụ như việc xác định các tham số cơ học của cấu trúc từ các giá trị vận tốc sóng đo được. Nghiên cứu của Horace Lamb (1917) [12] đã đặt nền móng cho việc hiểu và ứng dụng sóng Lamb trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Các nghiên cứu sau này tiếp tục phát triển lý thuyết về sóng Lamb, đặc biệt là trong các cấu trúc phức tạp như bản sandwich và vật liệu dị hướng. Sự phát triển của máy tính số đã cho phép giải các phương trình tán sắc phức tạp, mở ra khả năng ứng dụng rộng rãi của sóng Lamb trong kiểm tra không phá hủy và đánh giá cấu trúc.

1.2. Các Phương Pháp Tiếp Cận Giải Bài Toán Truyền Sóng

Có nhiều phương pháp khác nhau để giải bài toán truyền sóng trong môi trường đàn hồi, mỗi phương pháp có ưu điểm và hạn chế riêng. Các phương pháp truyền thống như phương pháp tiếp cận trực tiếp thường được sử dụng cho các cấu trúc đơn giản. Tuy nhiên, khi số lớp vật liệu tăng lên, phương pháp ma trận chuyển trở nên hiệu quả hơn. Phương pháp điều kiện biên hiệu dụng được sử dụng để mô tả ảnh hưởng của các lớp mỏng hoặc liên kết không hoàn hảo giữa các lớp. Gần đây, phương pháp giới hạn không nén được được phát triển để giải các bài toán trong môi trường đàn hồi không nén được. Phương pháp phần tử hữu hạn (FEM)phương pháp phần tử biên (BEM) cũng được sử dụng rộng rãi để mô phỏng sự truyền sóng trong các cấu trúc phức tạp. Luận văn này sử dụng phương pháp ma trận chuyển, phương pháp điều kiện biên hiệu dụngphương pháp giới hạn không nén được để nghiên cứu sự truyền sóng Lamb trong các tấm composite và sandwich.

II. Thách Thức Trong Nghiên Cứu Truyền Sóng Môi Trường Đàn Hồi

Nghiên cứu về truyền sóng trong môi trường đàn hồi đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt khi xét đến các cấu trúc phức tạp như tấm composite và sandwich. Một trong những thách thức lớn nhất là việc tìm ra các phương trình tán sắc chính xác và tường minh, cho phép tính toán vận tốc sóng một cách hiệu quả. Các yếu tố như tính dị hướng của vật liệu, liên kết không hoàn hảo giữa các lớp và tính không nén được của vật liệu có thể làm phức tạp thêm bài toán. Trong thực tế, sau một thời gian sử dụng, liên kết giữa các lớp vật liệu có thể yếu đi do tác động của các yếu tố cơ học và vật lý. Việc mô hình hóa liên kết không hoàn hảo, thường được thực hiện bằng mô hình liên kết lò xo, cũng đặt ra những thách thức nhất định. Do đó, cần phải phát triển các phương pháp phân tích mạnh mẽ và hiệu quả để giải quyết các bài toán truyền sóng trong các cấu trúc phức tạp này. Việc đánh giá độ bền của liên kết đòi hỏi phải xác định được độ cứng tiếp tuyến KT1, KT2 và độ cứng pháp tuyến KN. Sóng Lamb là một công cụ thuận tiện để thực hiện nhiệm vụ này.

2.1. Mô Hình Hóa Liên Kết Không Hoàn Hảo Giữa Các Lớp

Trong các cấu trúc phân lớp, liên kết giữa các lớp đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải ứng suất và biến dạng. Liên kết hoàn hảo thường được giả định trong các mô hình lý thuyết đơn giản, tuy nhiên trong thực tế, liên kết giữa các lớp có thể không hoàn hảo do nhiều yếu tố. Mô hình hóa liên kết không hoàn hảo là một thách thức, và mô hình liên kết lò xo là một trong những phương pháp phổ biến nhất. Trong mô hình này, trường chuyển dịch gián đoạn, trường ứng suất liên tục và tỉ lệ thuận với bước nhảy của chuyển dịch. Yao-Jun và cộng sự [40] đã nghiên cứu sóng Lamb trong tấm composite hai lớp đàn hồi đẳng hướng nén được với liên kết lò xo và tìm ra phương trình tán sắc ở dạng định thức. Việc xác định các tham số của lò xo, như độ cứng tiếp tuyến và độ cứng pháp tuyến, cũng là một thách thức, và cần được thực hiện thông qua các thí nghiệm hoặc mô phỏng số.

2.2. Xử Lý Tính Không Nén Được Của Vật Liệu

Tính không nén được của vật liệu, đặc biệt là trong các lớp lõi của tấm sandwich, có thể gây ra những khó khăn trong việc giải bài toán truyền sóng. Các phương pháp truyền thống có thể gặp vấn đề về hội tụ hoặc độ chính xác khi xử lý các vật liệu không nén được. Phương pháp giới hạn không nén được, được giới thiệu bởi Vĩnh và cộng sự [26], là một công cụ hữu ích để giải quyết các bài toán này. Phương pháp này cho phép suy ra lời giải cho các bài toán đàn hồi không nén được từ lời giải của các bài toán đàn hồi nén được tương ứng bằng cách lấy "giới hạn không nén được". Việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi phải cẩn thận xử lý các giới hạn và đảm bảo tính ổn định của lời giải.

2.3. Ảnh Hưởng của Tính Dị Hướng Lên Quá Trình Truyền Sóng

Tính dị hướng của vật liệu có ảnh hưởng đáng kể đến quá trình truyền sóng. Trong vật liệu dị hướng, vận tốc sóng phụ thuộc vào hướng truyền, làm phức tạp thêm việc phân tích và dự đoán hành vi của sóng. Liu và cộng sự [18], Nayfeh [24], và Verma [36] đã nghiên cứu sóng Lamb trong các bản nhiều lớp dị hướng. Việc xác định các hằng số vật liệu của vật liệu dị hướng cũng là một thách thức, và đòi hỏi các phương pháp đo lường chính xác. Ma trận chuyển là một công cụ hữu hiệu để mô hình hóa sự truyền sóng trong các vật liệu dị hướng, vì nó cho phép tính toán trường sóng một cách hiệu quả qua các lớp vật liệu khác nhau.

III. Phương Pháp Ma Trận Chuyển cho Bài Toán Truyền Sóng

Phương pháp ma trận chuyển là một công cụ mạnh mẽ để phân tích sự truyền sóng trong các cấu trúc phân lớp. Phương pháp này dựa trên việc thiết lập mối quan hệ giữa các biến trạng thái (chuyển dịch và ứng suất) tại các mặt của mỗi lớp. Ma trận chuyển biểu diễn mối quan hệ này, cho phép tính toán các biến trạng thái tại một mặt của lớp dựa trên các giá trị tại mặt kia. Bằng cách nhân các ma trận chuyển của từng lớp, ta có thể thu được ma trận chuyển tổng thể của cấu trúc, cho phép phân tích sự truyền sóng qua toàn bộ cấu trúc. Ưu điểm chính của phương pháp ma trận chuyển là tính hiệu quả và độ chính xác cao, đặc biệt khi xử lý các cấu trúc có nhiều lớp. Chương 1 của luận văn trình bày chi tiết cách rút ra ma trận chuyển dạng hiện của lớp trực hướng nén được.

3.1. Xây Dựng Ma Trận Chuyển cho Lớp Đàn Hồi Trực Hướng

Việc xây dựng ma trận chuyển cho lớp đàn hồi trực hướng đòi hỏi phải giải các phương trình chuyển động và liên hệ giữa ứng suất và chuyển dịch. Các phương trình này thường được giải bằng phương pháp sóng phẳng, giả định rằng sóng truyền theo một hướng xác định. Nghiệm của các phương trình này có dạng hàm mũ, và các hằng số trong nghiệm được xác định bằng cách áp dụng các điều kiện biên. Ma trận chuyển sau đó được xây dựng dựa trên các nghiệm này, biểu diễn mối quan hệ giữa các biến trạng thái tại các mặt của lớp. [25]

3.2. Ứng Dụng Ma Trận Chuyển cho Tấm Composite Nhiều Lớp

Khi áp dụng ma trận chuyển cho tấm composite nhiều lớp, ta cần phải nhân các ma trận chuyển của từng lớp để thu được ma trận chuyển tổng thể. Điều này đòi hỏi phải đảm bảo rằng các điều kiện liên tục về chuyển dịch và ứng suất được thỏa mãn tại các mặt phân cách giữa các lớp. Ngoài ra, cần phải áp dụng các điều kiện biên tại các mặt ngoài của tấm, ví dụ như điều kiện tự do hoặc điều kiện ngàm. Ma trận chuyển tổng thể sau đó có thể được sử dụng để phân tích sự truyền sóng qua tấm composite, bao gồm việc tính toán vận tốc sóng, hệ số phản xạ và truyền qua.

3.3. Ưu Điểm và Hạn Chế của Phương Pháp Ma Trận Chuyển

Phương pháp ma trận chuyển có nhiều ưu điểm so với các phương pháp khác, bao gồm tính hiệu quả, độ chính xác cao và khả năng xử lý các cấu trúc có nhiều lớp. Tuy nhiên, phương pháp này cũng có một số hạn chế. Thứ nhất, phương pháp này chỉ áp dụng được cho các cấu trúc phân lớp có hình học đơn giản. Thứ hai, phương pháp này có thể gặp khó khăn khi xử lý các vật liệu có tính chất phức tạp, ví dụ như vật liệu nhớt đàn hồi hoặc vật liệu có cấu trúc vi mô phức tạp.

IV. Phương Trình Tán Sắc Sóng Lamb trong Tấm Composite 2 Lớp

Chương 2 của luận văn tập trung vào việc nghiên cứu sự truyền của sóng Lamb trong tấm composite hai lớp đàn hồi trực hướng với liên kết lò xo. Luận văn tìm ra phương trình tán sắc chính xác dạng hiện cho trường hợp này. Các phương trình tán sắc cũng được suy ra cho các trường hợp liên kết gắn chặt và liên kết trượt. Phương pháp giới hạn không nén được được sử dụng để tìm ra các phương trình tán sắc cho trường hợp vật liệu không nén được. Một vài ví dụ số đã được khảo sát để thấy được sự ảnh hưởng của tần số, ảnh hưởng của tính không nén được, ảnh hưởng của liên kết lên vận tốc của sóng Lamb.

4.1. Thiết Lập Phương Trình Tán Sắc với Liên Kết Lò Xo

Để thiết lập phương trình tán sắc cho tấm composite hai lớp với liên kết lò xo, ta cần phải áp dụng các điều kiện liên tục về ứng suất và các điều kiện biên về chuyển dịch tại mặt phân cách giữa hai lớp. Điều kiện liên tục về ứng suất đảm bảo rằng ứng suất pháp tuyến và ứng suất tiếp tuyến liên tục qua mặt phân cách. Điều kiện biên về chuyển dịch cho phép chuyển dịch gián đoạn, và độ gián đoạn này tỉ lệ thuận với ứng suất tại mặt phân cách. Bằng cách áp dụng các điều kiện này và sử dụng ma trận chuyển của từng lớp, ta có thể thiết lập một hệ phương trình đại số tuyến tính. Phương trình tán sắc sau đó được thu được bằng cách đặt định thức của ma trận hệ số bằng không.

4.2. Các Trường Hợp Đặc Biệt Gắn Chặt và Trượt

Từ phương trình tán sắc tổng quát với liên kết lò xo, ta có thể suy ra các phương trình tán sắc cho các trường hợp đặc biệt của liên kết gắn chặt và liên kết trượt. Liên kết gắn chặt tương ứng với trường hợp độ cứng của lò xo tiến đến vô cùng, trong khi liên kết trượt tương ứng với trường hợp độ cứng tiếp tuyến của lò xo tiến đến không. Các phương trình tán sắc cho các trường hợp này thường đơn giản hơn so với phương trình tán sắc tổng quát, và có thể được sử dụng để kiểm tra tính đúng đắn của phương trình tán sắc tổng quát.

4.3. Ảnh Hưởng của Tần Số và Tính Không Nén Được

Tần số của sóng và tính không nén được của vật liệu có ảnh hưởng đáng kể đến vận tốc của sóng Lamb. Trong vật liệu nén được, vận tốc sóng thường tăng theo tần số, trong khi trong vật liệu không nén được, vận tốc sóng có thể không phụ thuộc vào tần số hoặc có thể giảm theo tần số. Tính không nén được cũng có thể làm thay đổi hình dạng của các đường cong tán sắc. Luận văn khảo sát các ảnh hưởng này thông qua các ví dụ số, cho thấy sự cần thiết phải xem xét cẩn thận các yếu tố này khi phân tích sự truyền sóng Lamb trong các cấu trúc composite.

V. Nghiên Cứu Sóng Lamb trong Tấm Sandwich Đàn Hồi

Chương 3 mở rộng nghiên cứu sang tấm sandwich đàn hồi trực hướng với liên kết lò xo. Luận văn tìm ra các phương trình tán sắc chính xác dạng hiện cho trường hợp nén được và không nén được, với các liên kết trượt và lò xo. Phương pháp tương tự chương 2, ma trận chuyển từ chương 1, phương pháp điều kiện biên hiệu dụng được áp dụng ở đây.

5.1. Điều Kiện Biên Hiệu Dụng cho Tấm Sandwich

Tấm sandwich thường có cấu trúc phức tạp, bao gồm một lớp lõi được kẹp giữa hai lớp bề mặt. Để đơn giản hóa việc phân tích, ta có thể sử dụng phương pháp điều kiện biên hiệu dụng để thay thế ảnh hưởng của hai lớp bề mặt bằng các điều kiện biên tương đương áp dụng cho lớp lõi. Điều kiện biên hiệu dụng được thiết lập bằng cách áp dụng các điều kiện liên tục về ứng suất và chuyển dịch tại các mặt phân cách giữa lớp lõi và các lớp bề mặt, và sau đó giải các phương trình cho các lớp bề mặt để thu được mối quan hệ giữa các biến trạng thái tại mặt ngoài của lớp lõi. Các phương trình (3.15) được gọi là các điều kiện biên hiệu dụng, chúng thay thế toàn bộ ảnh hưởng của hai lớp bề mặt lên lớp lõi.

5.2. Phương Trình Tán Sắc cho Mode Đối Xứng và Phản Đối Xứng

Sóng Lamb trong tấm sandwich có thể được phân thành hai loại: mode đối xứng và mode phản đối xứng. Trong mode đối xứng, chuyển dịch pháp tuyến đối xứng qua mặt phẳng giữa của tấm, trong khi chuyển dịch tiếp tuyến phản đối xứng. Trong mode phản đối xứng, ngược lại. Các phương trình tán sắc cho hai loại mode này khác nhau, và cần phải được thiết lập riêng biệt. Việc xác định mode đối xứng và phản đối xứng giúp ta có thể đơn giản hóa việc phân tích và hiểu rõ hơn về hành vi của sóng Lamb trong tấm sandwich. Phương trình (3.34) là phương trình tán sắc của các mode phản đối xứng, trong khi phương trình (3.35) là phương trình tán sắc của các mode đối xứng.

5.3. Ảnh Hưởng của Tính Chất Lớp Lõi và Lớp Bề Mặt

Tính chất của lớp lõi và lớp bề mặt có ảnh hưởng đáng kể đến vận tốc và hình dạng của các đường cong tán sắc. Lớp lõi thường có độ cứng thấp hơn so với lớp bề mặt, và có thể có tính không nén được. Lớp bề mặt thường có độ cứng cao hơn và có thể có tính dị hướng. Việc thay đổi tính chất của các lớp này có thể làm thay đổi đáng kể hành vi của sóng Lamb trong tấm sandwich. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc thiết kế cấu trúc lớp lõi và lớp bề mặt phù hợp là rất quan trọng để đạt được các tính chất mong muốn của tấm sandwich.

VI. Kết Luận và Hướng Phát Triển Nghiên Cứu Truyền Sóng

Luận văn đã thành công trong việc tìm ra các phương trình tán sắc chính xác dạng hiện của sóng Lamb trong tấm composite và sandwich đàn hồi trực hướng nén được và không nén được với liên kết trượt và lò xo. Các kết quả này đóng góp quan trọng vào việc hiểu rõ hơn về sự truyền sóng trong các cấu trúc phức tạp này, và có thể được sử dụng trong các ứng dụng thực tế như kiểm tra không phá hủy và đánh giá cấu trúc. Hướng phát triển tiếp theo có thể tập trung vào việc nghiên cứu sóng Lamb trong các môi trường phức tạp hơn như micropolar, piezo-electric, đàn hồi porous, đàn nhớt.

6.1. Tổng Kết Các Kết Quả Nghiên Cứu Chính

Luận văn đã đạt được các kết quả chính sau: (1) Tìm ra các phương trình tán sắc chính xác dạng hiện của sóng Lamb trong tấm composite đàn hồi trực hướng nén được và không nén được với liên kết trượt và liên kết lò xo. (2) Tìm ra các phương trình tán sắc chính xác dạng hiện của sóng Lamb trong tấm sandwich đàn hồi trực hướng nén được và không nén được với liên kết trượt và liên kết lò xo. Các kết quả này là mới và đóng góp vào sự hiểu biết sâu sắc hơn về sự truyền sóng trong các cấu trúc phức tạp.

6.2. Ứng Dụng Tiềm Năng trong Kiểm Tra Không Phá Hủy

Các phương trình tán sắc thu được trong luận văn có thể được sử dụng để phát triển các phương pháp kiểm tra không phá hủy dựa trên sóng Lamb. Bằng cách đo vận tốc sóng và so sánh với các giá trị lý thuyết, ta có thể phát hiện các khuyết tật hoặc hư hỏng trong cấu trúc. Ví dụ, sự thay đổi về độ cứng của liên kết giữa các lớp có thể được phát hiện thông qua sự thay đổi về vận tốc sóng. Phương pháp này có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp khác nhau, đặc biệt là trong ngành hàng không vũ trụ, nơi mà việc đảm bảo an toàn và độ tin cậy của cấu trúc là vô cùng quan trọng.

6.3. Hướng Nghiên Cứu Mở Rộng trong Tương Lai

Nghiên cứu về truyền sóng trong môi trường đàn hồi vẫn còn nhiều hướng phát triển tiềm năng. Một hướng đi là nghiên cứu sóng Lamb trong các môi trường phức tạp hơn, chẳng hạn như vật liệu micropolar, piezo-electric, đàn hồi porous, đàn nhớt. Các vật liệu này có các tính chất đặc biệt có thể ảnh hưởng đến sự truyền sóng, và cần phải phát triển các mô hình lý thuyết phù hợp. Một hướng đi khác là nghiên cứu sự tương tác giữa sóng Lamb và các khuyết tật hoặc hư hỏng trong cấu trúc. Việc hiểu rõ hơn về sự tương tác này có thể giúp cải thiện độ chính xác và độ nhạy của các phương pháp kiểm tra không phá hủy.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 sẽ được sử dụng để nghiên cứu các bài toán truyền sóng Lamb trong các tấm phân lớp ở các chương sau. 13 Chương 2 Sóng Lamb trong tấm composite hai lớp đàn hồi trực hướng với liên kết lò xo Trong chương này, ta nghiên cứu sự truyền của sóng Lamb theo hướng x1 trong tấm composite phân lớp gồm hai lớp trực hướng chiếm các miền −h1 ≤ x2 ≤ 0 (lớp 1 có độ dày h1 , mật độ khối lượng ρ̄, các hằng số vật liệu c̄ij ) và lớp 2 chiếm miền 0 ≤ x2 ≤ h2 (lớp 2 có độ dày h2 , mật độ khối lượng ρ, các hằng số vật liệu cij ) (xem hình 2. Giả thiết rằng tại các mặt x2 = −h1 và mặt x2 = h2 tự do với ứng suất và liên kết giữa hai lớp là liên kết lò xo. Ta giả sử các trục vật liệu của hai lớp vật liệu trùng nhau và trùng với các trục tọa độ 0x1 , 0x2 và 0x3.

Để phân biệt các đại lượng của lớp 1 và lớp 2, tất cả các đại lượng của lớp 1 được phân biệt bởi dấu gạch ngang.1: Mô hình truyền sóng Lamb trong tấm composite 2 lớp trực hướng.1 Phương trình tán sắc của sóng Lamb cho trường hợp nén được Xét sự truyền của sóng Lamb theo hướng x1 với vận tốc c(> 0) và số sóng k(> 0). Trường chuyển dịch và ứng suất của sóng Lamb có dạng: ū1 = Ū1 (y)eik(x1 −ct) , ū2 = Ū2 (y)eik(x1 −ct) , ū3 ≡ 0, (2.2) ik(x1 −ct) ik(x1 −ct) σ12 = kΣ1 (y)e , σ22 = kΣ2 (y)e , y = kx2 cho lớp 2, trong đó Uj (y), Σj (y) và Ūj (y), Σ̄j (y) là những hàm cần xác định. Giả thiết tấm composite tự do với ứng suất, tức là: σ12 = σ22 = 0 tại x2 = h2 và σ̄12 = σ̄22 = 0 tại x2 = −h1 (2.3) hay tương đương: Σ(h2 ) = 0, Σ̄(−h1 ) = 0 (2.19) với a = −h1 , b = 0 và sử dụng (2.5) trong đó T3 và T4 là các ma trận chuyển của lớp 1 cho bởi (1.22) với đại lượng ε được thay thế bởi ε̄ = kh1. Cụ thể, các phần tử của ma trận M(1) là: (1)  M11 = [γ̄ chε̄][β̄ shε̄; γ̄] − γ̄1 γ̄2 [chε̄][β̄ shε̄] /D̄1 , (1)  M22 = β̄1 β̄2 [ᾱ; γ̄ shε̄][chε̄] + [ᾱ; β̄ chε̄][β̄; γ̄ shε̄] /D̄2 , (1)  M12 = −i β̄1 β̄2 [γ̄ chε̄][chε̄] + [β̄ shε̄][β̄; γ̄ shε̄] /D̄, (1)  M21 = i [ᾱ; γ̄ shε̄][β̄ shε̄; γ̄] − γ̄1 γ̄2 [ᾱ; β̄ chε̄][chε̄] /D̄ (2.

Tương tự, áp dụng (1.24) với a = 0 và b = h2 và xét đến (2.7) 15 trong đó các phần tử của ma trận M(2) được xác định bởi: (2)  M11 = − [γ chε][β shε; γ] − γ1 γ2 [chε][β shε] /D1 , (2)  M22 = − β1 β2 [α; γ shε][chε] + [α; β chε][β; γ shε] /D2 , (2)  M12 = −i β1 β2 [γ chε][chε] + [β shε][β; γ shε] /D, (2)  M21 = i [α; γ shε][β shε; γ] − γ1 γ2 [α; β chε][chε] /D (2.8) trong đó ε = kh2 và D = [α; γ shε][β shε] − [α; β chε][γ chε], D1 = D[γ]/[α; β] và D2 = D[α; β]/[γ]. Giả thiết liên kết giữa hai lớp là liên kết lò xo nên ta có (xem [8, 22, 1]):     σ12 (0) = KT u1 (0) − ū1 (0) , σ22 (0) = KN u2 (0) − ū2 (0) , (2.9) σ̄12 (0) = σ12 (0), σ̄22 (0) = σ22 (0) trong đó KT là độ cứng tiếp và KN là độ cứng pháp của lò xo.9) ta được: k k Ū1 (0) = − Σ1 (0) + U1 (0), Ū2 (0) = − Σ2 (0) + U2 (0), KT KN (2.10) Σ̄1 (0) = Σ1 (0), Σ2 (0) = Σ̄2 (0) Dưới dạng ma trận (2.10) được biểu diễn như sau: Ū(0) = U(0) + KΣ(0), Σ̄(0) = Σ(0) (2.11) trong đó ma trận K được xác định:   −k/KT 0 K=  (2.11) ta suy ra:   (1) (2) (1) (2) M −M +M KM U(0) = 0 (2.13) Do U(0) ̸= 0, định thức của ma trận hệ số của phương trình (2. Điều này dẫn đến: k k k   (1) (2) (1) (2) (1) (2) (1) (2) (1) (2) M11 − M11 − M11 M11 − M12 M21 M22 − M22 − M M KT KN KT 21 12 k k k    (1) (2) (1) (2) (1) (2) (1) (2) − M M − M12 − M12 − M M − M M KN 22 22 KT 11 12 KN 12 22 k k   (1) (2) (1) (2) (1) (2) × M21 − M21 − M M − M M =0 KT 21 11 KN 22 21 (2.14) 16 với Mij(k) được xác định bởi (2. Phương trình (2.14) là phương trình tán sắc của sóng Lamb trong tấm composite hai lớp trực hướng nén được với liên kết lò xo.8) dễ dàng thấy rằng phương trình tán sắc (2.14) là hoàn toàn tường minh.

Trường hợp liên kết gắn chặt Lấy giới hạn hai vế của phương trình (2.14) khi KT → +∞ và KN → +∞, ta thu được phương trình tán sắc của sóng Lamb truyền dọc theo biên phân chia của tấm composite hai lớp trực hướng nén được với liên kết gắn chặt. Phương trình này có dạng:       (1) (2) (1) (2) (1) (2) (1) (2) M11 − M11 M22 − M22 − M12 − M12 M21 − M21 =0 (2.15) Trường hợp liên kết trượt Nhân hai vế của phương trình (2.14) với KT , sau đó lấy giới hạn hai vế của phương trình kết quả khi KT → 0 và KN → +∞, ta thu được phương trình tán sắc của sóng Lamb truyền dọc theo biên phân chia của tấm composite hai lớp trực hướng nén được với liên kết trượt. Phương trình này có dạng:   (1) (2) (2) (1) (1) (2) (2) (2) (1) (1) M11 M11 M22 − M22 − M11 M12 M21 + M11 M12 M21 = 0 (2.2 Phương trình tán sắc của sóng cho trường hợp không nén được 2.1 Phương pháp giới hạn không nén được Vĩnh và cộng sự [26] đã giới thiệu "phương pháp giới hạn không nén được", ứng dụng cho vật thể đàn hồi chịu biến dạng phẳng. Bằng cách sử dụng phương pháp này lời giải của các bài toán đàn hồi không nén được chịu biến dạng phẳng có thể đạt được từ lời giải của các bài toán đàn hồi nén được tương ứng, bằng cách lấy "giới hạn không nén được".

Sau đây, kí hiệu "lim" chỉ giới hạn từ vật liệu trực hướng nén được sang vật liệu trực hướng không nén được. Xét vật thể đàn hồi trực hướng nén được chịu biến dạng phẳng mà các thành phần chuyển dịch có dạng: u1 = u1 (x1 , x2 , t), u2 = u2 (x1 , x2 , t), u3 ≡ 0 (2.17) 17 và các phương trình cơ bản được cho bởi (1.4) không có dấu gạch ngang. Theo các tác giả Vĩnh và cộng sự [26] thì: Mệnh đề 1: Tại giới hạn không nén được ta có mối quan hệ sau: 1 1 1 1 s′11 = , s′66 = , δ = ′ , c66 = ′ (2.18) δ c66 s11 s66 trong đó cij và s′ij tương ứng là các hằng số đàn hồi cứng và hằng số đàn hồi mềm rút gọn [34] của vật thể đàn hồi không nén được và δ = c11 + c22 − 2c12. Mệnh đề 2: Ta có các đẳng thức giới hạn sau: lim ∆ = 0, lim ∆.

Chú ý rằng, đối với vật liệu đàn hồi trực hướng nén được chịu biến dạng phẳng (2.20) ∆ Nhận xét: i) Từ (2.19) suy ra tại giới hạn không nén được ta có c11 , c22 , c12 bằng vô cùng (vì lim∆ = 0 và s′11 có giá trị hữu hạn). ii) Tuy nhiên, theo mệnh đề 1: 0 < s′11 < +∞, limc11 + limc22 − 2limc12 là một số hữu hạn dương. Áp dụng mệnh đề 1,2, ta có mệnh đề sau (theo [26]). Mệnh đề 3: Khi lớp vật liệu đàn hồi trực hướng nén được tiến đến giới hạn không nén được, ta có: P̄ ′ = lim P̄ = 1 − x̄, S̄ ′ = lim S̄ = ēδ − x̄ − 2, ′ 1 ′ −c̄66 (b̄2j + 1) ᾱj = lim ᾱj = − , β̄j = lim β̄j = , (2.21) b̄j b̄j γ̄j′ = lim γ̄j = c̄66 (x̄ − ēδ + 1 + b̄2j ), j = 1, 2 cho lớp 1, trong đó: δ̄ ēδ = , δ̄ = c̄11 + c̄22 − 2c̄12 , x̄ = ρ̄c2 /c̄66 (2.22) c̄66 và: P ′ = lim P = 1 − x, S ′ = lim S = eδ − x − 2, 1 −c66 (b2j + 1) αj′ = lim αj = − , βj′ = lim βj = , (2.23) bj bj γj′ = lim γj = c66 (x − eδ + 1 + b2j ), j = 1, 2 18 cho lớp 2, với: δ eδ = , δ = c11 + c22 − 2c12 , x = ρc2 /c66 (2.21) được tính theo công thức (1.10) với P̄ và S̄ được xác định bởi (1.23) được xác định như (1.10) nhưng bỏ dấu gạch ngang.

Sau đây, phương pháp giới hạn không nén được sẽ được sử dụng để tìm ra các phương trình tán sắc chính xác dạng hiện của sóng Lamb trong tấm composite hai lớp trực hướng, trong đó ít nhất một lớp là không nén được.2 Phương trình tán sắc trường hợp không nén được/không nén được Xét sóng Lamb truyền trong tấm composite gồm hai lớp trực hướng không nén được chiếm các miền −h1 ≤ x2 ≤ 0 (lớp 1 có độ dày h1 ) và lớp 2 chiếm miền 0 ≤ x2 ≤ h2 (lớp 2 có độ dày h2 ) với liên kết lò xo. Mặt x2 = −h1 và mặt x2 = h2 tự do với ứng suất. Giả sử sóng Lamb truyền theo hướng x1 với vận tốc c(> 0) và số sóng k(> 0). Để tìm phương trình tán sắc của sóng Lamb cho trường hợp này, ta lấy giới hạn hai vế của phương trình (2.14) khi vật liệu của cả hai lớp tiến đến giới hạn không nén được và sử dụng (2.23) ta được phương trình tán sắc chính xác dạng hiện của sóng Lamb cho trường hợp không nén được/không nén được với liên kết lò xo: k k k   (1) (2) (1) (2) (1) (2) (1) (2) (1) (2) M11 − M11 − M11 M11 − M12 M21 M22 − M22 − M21 M12 K K KT k T k N k  (1) (2) (1) (2) (1) (2) (1) (2) − M22 M22 − M12 − M12 − M11 M12 − M12 M22 K KT KN N k k  (1) (2) (1) (2) (1) (2) × M21 − M21 − M M − M M =0 KT 21 11 KN 22 21 (2.25) với Mij(k) được xác định bởi (2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ