ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đái tháo đƣờng là một bệnh lý mạn tính gây ra do sự thiếu sản xuất Insulin của tụy hoặc tác dụng của Insulin không hiệu quả do nguyên nhân mắc phải và/hoặc do di truyền với hậu quả là tăng Glucose máu [95]. Tỷ lệ mắc ĐTĐ ngày càng tăng nhanh trong dân số. Theo ƣớc tính của Liên đoàn đái tháo đƣờng thế giới (IDF) vào năm 2017 trên thế giới có khoảng 424,9 triệu ngƣời mắc bệnh ĐTĐ (ở độ tuổi từ 20-79), có nghĩa là cứ 11 ngƣời lại có 1 ngƣời bị bệnh ĐTĐ. Và tới năm 2045 con số này sẽ là 629 triệu ngƣời (tăng 48%) [60].
ĐTĐ đƣợc xếp vào nhóm 10 bệnh mạn tính không lây nhiễm đứng hàng đầu của thế kỷ 21 [30], [94]. Tại Việt Nam, số ngƣời mắc ĐTĐ cũng gia tăng song hành với sự phát triển kinh tế - xã hội. Nếu nhƣ năm 1990, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ chỉ từ 1,1% đến 2,25% thì đến năm 2012 theo nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ƣơng cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ trên toàn quốc ở ngƣời trƣởng thành là 5,42%, tỷ lệ mắc ĐTĐ chƣa đƣợc chẩn đoán trong cộng đồng là 63,6% [6]. Theo kết quả điều tra STEPwise về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế thực hiện năm 2015 ở nhóm tuổi từ 18-69 cho thấy tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 4,1%, tiền ĐTĐ là 3,6% [5].
Đái tháo đƣờng type 2 là loại phổ biến nhất, chiếm khoảng 90% trong tất cả các trƣờng hợp ĐTĐ [57]. Bệnh thƣờng khởi phát âm thầm, đôi khi không có triệu chứng rõ ràng nên việc chẩn đoán và điều trị hay bị chậm trễ dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm. Các biến chứng mạn tính thƣờng gặp nhất ở bệnh nhân ĐTĐ là biến chứng tim mạch, mắt, thận và thần kinh. Các biến chứng này thậm chí có ngay tại thời điểm bệnh mới đƣợc phát hiện và là nguyên nhân chính gây tử vong ở bệnh nhân ĐTĐ [29].
Mỗi năm, ĐTĐ gây tử vong 5 triệu ngƣời với gánh nặng chi phí điều trị lên tới 670 tỷ USD ( chiếm 12% chi phí sức khỏe) [9]. Ngày càng có nhiều nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa bệnh ĐTĐ với tình trạng viêm kéo dài gây nên các biến chứng mạch máu [54], [68], [75]. ứng viêm tại lớp nội mạc mạch máu không những tham gia vào cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ mà còn là yếu tố làm duy trì, phát triển quá trình biến chứng và làm tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân ĐTĐ [36], [82]. Hiện nay, có nhiều phƣơng pháp để xác định tình trạng viêm tại lớp nội mạc mạch máu ở bệnh nhân ĐTĐ.
Trong đó, nồng độ CRP độ nhạy cao (hs-CRP) đƣợc đánh giá là có nhiều ƣu điểm so với các marker viêm khác bởi sự ổn định, phổ biến và đã đƣợc chuẩn hóa quốc tế. Hs-CRP là thƣớc đo protein phản ứng C với độ chính xác cao với giới hạn dƣới của xét nghiệm hs-CRP là 0,01 mg/L, nhạy hơn 100 lần so với phép đo CRP thông thƣờng (giới hạn dƣới 5 mg/L) [50]. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu đánh giá nồng độ hs-CRP ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 và cho thấy nồng độ hs-CRP ở ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 tăng đáng kể so với ngƣời bình thƣờng cũng nhƣ có mối liên quan mật thiết giữa nồng độ hs-CRP với việc kiểm soát đƣờng huyết (HbA1c) và các yếu tố nguy cơ khác trên bệnh nhân ĐTĐ [40], [71], [84]. Nhiều nghiên cứu về hs-CRP trên bệnh nhân ĐTĐ đều cho thấy sự gia tăng nồng độ hs-CRP có liên quan đến sự xuất hiện, tiến triển cũng nhƣ biến chứng của ĐTĐ [77], [90].
Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về nồng độ hs-CRP. Tuy nhiên, đa phần là nghiên cứu trên bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành, còn trên ngƣời bệnh ĐTĐ type 2 thì chƣa có nhiều nghiên cứu [11], [22]. Đặc biệt là tại TP. HCM – một thành phố với tốc độ phát triển kinh tế hàng đầu cả nƣớc, kéo theo đó là tỷ lệ mắc ĐTĐ cùng với những biến chứng của bệnh ngày càng tăng cao, gây nên những gánh nặng bệnh tật rất lớn thì chƣa có nghiên cứu nào đƣợc tiến hành.
Từ đó, đặt ra vấn đề cần thiết phải theo dõi và phát hiện sớm biến chứng của ĐTĐ để có biện pháp can thiệp kịp thời nhằm nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh. Vì vậy, với mong muốn tìm hiểu thêm về nồng độ hs-CRP ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 nhằm giúp dự báo sớm những biến chứng của bệnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Mối tƣơng quan giữa nồng độ hs-CRP với một số chỉ số xét nghiệm hóa sinh liên quan trên bệnh nhân đái tháo đƣờng type 2”. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Có hay không mối tƣơng quan giữa hs-CRP với các đặc điểm lâm sàng và chỉ số xét nghiệm hóa sinh ở bệnh nhân đái tháo đƣờng type 2? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát Xác định nồng độ hs-CRP trung bình ở bệnh nhân đái tháo đƣờng type 2 và mối tƣơng quan giữa hs-CRP với các yếu tố liên quan. Mục tiêu cụ thể 1) Xác định nồng độ hs-CRP trung bình ở bệnh nhân đái tháo đƣờng type 2.
2) Khảo sát mối liên quan giữa nồng độ hs-CRP với các đặc điểm lâm sàng (tuổi, giới, BMI, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trƣơng) trên bệnh nhân đái tháo đƣờng type 2. 3) Khảo sát mối tƣơng quan giữa nồng độ hs-CRP với các chỉ số xét nghiệm hóa sinh (Glucose máu đói, HbA1c, Lipid máu) trên bệnh nhân đái tháo đƣờng type 2. SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU Bệnh nhân Nhóm chứng ĐTĐ type 2 Khai thác tiền sử Khám lâm sàng Các yếu tố lâm sàng Xét nghiệm Glucose máu đói, HbA1c, hs-CRP Lipid máu Tiêu chí chọn vào 118 bệnh nhân ĐTĐ type 2 và 120 ngƣời khỏe mạnh đƣa vào nghiên cứu 1) Nồng độ hs-CRP trung bình 2) Mối tƣơng quan giữa nồng độ hs-CRP với đặc điểm cận lâm sàng 3) Mối tƣơng quan giữa nồng độ hs-CRP với đặc điểm lâm sàng. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 1.
Đại cƣơng về đái tháo đƣờng 1. Định nghĩa Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ĐTĐ là một bệnh lý mạn tính gây ra do thiếu sản xuất Insulin của tụy hoặc tác dụng của Insulin không hiệu quả do nguyên nhân mắc phải và/hoặc do di truyền với hậu quả tăng Glucose máu [95]. Theo Hội đái tháo đƣờng Hoa Kỳ, ĐTĐ là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trƣng bởi tình trạng tăng Glucose máu do khiếm khuyết tiết Insulin hoặc khiếm khuyết hoạt động của Insulin hoặc do cả hai. Tăng Glucose máu mạn tính trong ĐTĐ sẽ gây tổn thƣơng, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu [38].
Theo Liên đoàn đái tháo đƣờng thế giới, ĐTĐ là một bệnh mạn tính xảy ra khi tuyến tụy không còn khả năng sản xuất Insulin hoặc khi cơ thể không thể sử dụng tốt Insulin mà nó tạo ra. Không thể sản xuất Insulin hoặc sử dụng Insulin một cách không hiệu quả dẫn đến tăng mức Glucose trong máu (đƣợc gọi là tăng đƣờng huyết). Nồng độ Glucose tăng cao trong thời gian dài làm tổn hại các cơ quan và các mô khác nhau trong cơ thể [57]. Theo Bộ Y tế Việt Nam năm 2017, bệnh ĐTĐ là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng Glucose huyết do khiếm khuyết về tiết Insulin, về tác động của Insulin, hoặc cả hai.
Tăng Glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa Carbohydrat, Protid, Lipid gây tổn thƣơng ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim, mạch máu, thận, mắt và thần kinh [6]. Dịch tễ học Trên thế giới ĐTĐ đƣợc xếp vào nhóm 10 bệnh mạn tính không lây nhiễm đứng hàng đầu của thế kỷ 21 [30], [94]. Theo ƣớc tính của Liên đoàn đái tháo đƣờng thế giới (IDF) vào năm 2017 trên thế giới có khoảng 424,9 triệu ngƣời mắc bệnh ĐTĐ (ở độ tuổi từ 20- 79), có nghĩa là cứ 11 ngƣời lại có 1 ngƣời bị bệnh ĐTĐ. Và tới năm 2045, con số này.
sẽ là 629 triệu ngƣời (tăng 48%), nhƣ vậy cứ 10 ngƣời thì có 1 ngƣời bị bệnh ĐTĐ (tăng 48% so với năm 2017) [60]. Theo thống kê mới nhất năm 2019 của IDF, có khoảng 463 triệu ngƣời trƣởng thành (20-79 tuổi) đang sống chung với bệnh ĐTĐ [58]. Đến năm 2045, con số này sẽ tăng lên đến 700 triệu ngƣời bị ĐTĐ [58]. Tỷ lệ ngƣời mắc ĐTĐ type 2 đang gia tăng ở hầu hết các quốc gia với 79% ngƣời trƣởng thành mắc bệnh sống ở các nƣớc thu nhập thấp và trung bình [58].
Khoảng 1/5 trong số những ngƣời trên 65 tuổi bị mắc ĐTĐ, 1/2 (232 triệu) ngƣời mắc bệnh ĐTĐ không đƣợc chẩn đoán [58]. Hơn 1,1 triệu trẻ em và thanh thiếu niên đang sống chung với bệnh ĐTĐ type 1 [58]. Hơn 20 triệu thai phụ (1 trong 6 thai phụ) bị ảnh hƣởng bởi ĐTĐ thai kỳ [58]. Khoảng 374 triệu ngƣời có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2 [58].
Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở các vùng khác nhau trên thế giới rất khác nhau tùy theo địa dƣ, chủng tộc, mức sống, tuổi, thói quen ăn uống và sinh hoạt [55]. Cụ thể: ở Bắc Mỹ và vùng Caribe năm 2010 có 37,4 triệu ngƣời mắc ĐTĐ, ƣớc đoán năm 2030 có 53,2 triệu ngƣời mắc ĐTĐ (tăng 42%); Trung và Nam Mỹ năm 2010 có 18 triệu ngƣời mắc ĐTĐ, ƣớc đoán năm 2030 có 29,6 triệu ngƣời mắc ĐTĐ (tăng 65%); Châu Âu năm 2010 có 55,2 triệu ngƣời mắc ĐTĐ, ƣớc đoán năm 2030 có 66,2 triệu ngƣời mắc ĐTĐ (tăng 20%); Bắc Phi và Trung Đông năm 2010 có 26,6 triệu ngƣời mắc ĐTĐ, ƣớc đoán năm 2030 có 51,7 triệu ngƣời mắc ĐTĐ (tăng 94%); Châu Phi năm 2010 có 12,1 triệu ngƣời mắc ĐTĐ, ƣớc đoán năm 2030 có 23,9 triệu ngƣời mắc ĐTĐ (tăng 98%); Tây Thái Bình Dƣơng năm 2010 có 76,7 triệu ngƣời mắc ĐTĐ, ƣớc đoán năm 2030 có 112,8 triệu ngƣời mắc ĐTĐ (tăng 47%); Đông Nam Á năm 2010 có 58,7 triệu ngƣời mắc ĐTĐ, ƣớc đoán năm 2030 có 101 triệu ngƣời mắc ĐTĐ (tăng 72%). Thật đáng ngại khi ĐTĐ đã và đang là vấn đề lớn của y tế toàn cầu. Tỷ lệ mắc ĐTĐ ngày càng tăng nhanh trong dân số, đặc biệt là ở các quốc gia có tốc độ đô thị hóa cao và các nƣớc đang phát triển với 80% số ngƣời bệnh ĐTĐ đang sống ở các nƣớc thu nhập thấp và trung bình [80].
Nguyên nhân là do có sự thay đổi nhanh chóng về lối sống, về thói quen ăn uống, nhất là lối sống ít hoạt động thể lực. Ƣớc tính đến năm 2030, trong 10 nƣớc có số lƣợng ngƣời mắc ĐTĐ cao nhất thế giới .