CHƯƠNG 1 Chương này trình bày vấn đề nghiên cứu mà đề tài đang hướng đến, cụ thể đề tài phân tích tác động của vốn, thanh khoản đến cho vay của ngân hàng. Từ vấn đề nghiên cứu này, đề tài thiết lập mục tiêu nghiên cứu và các câu hỏi nghiên cứu có liên quan. Đồng thời đề tài cũng trình bày sơ lược đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu mà đề tài phân tích. Cũng như phương pháp nghiên cứu mà đề tài lựa chọn là phương pháp ước lượng GMM.
Cuối cùng là kết cấu đề tài trình bày trong chương này. 123doc 9 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Tổng quan các yếu tố quyết định cho vay của ngân hàng Ngành ngân hàng được xem như là thành phần quan trọng trong hệ thống tài chính của các quốc gia, đặc biệt các quốc gia đang phát triển giống Việt Nam khi mà thị trường chứng khoán chưa thật sự phát triển như các quốc gia khác.
Với vai trò như là một trung gian tài chính, các ngân hàng có thể chuyển nguồn vốn từ các đối tượng thặng dư vốn đến các đối tượng có nhu cầu về vốn và chuyển hóa tài sản thanh khoản (TSTK) thành các tài sản kém thanh khoản. Quá trình chuyển hóa này chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau, các yếu tố này lần lượt bao gồm các đặc điểm ngân hàng, đặc điểm ngành và đặc điểm kinh tế vĩ mô (Ladime và các cộng sự, 2013). Mặt khác, các yếu tố tác động đến cho vay ngân hàng có thể được phân loại thành các nhóm yếu tố bên trong và bên ngoài ngân hàng (Malede, 2014; Moussa và Chadia, 2016). Mặt khác, xét ở khía cạnh khác, CV của ngân hàng có thể được phân loại thành các yếu tố phía cung và các yếu tố phía cầu (Pham, 2015), trong đó các yếu tố phía cung có thể được hiểu là các yếu tố đặc điểm ngân hàng, trong khi đó các yếu tố phía cầu thì phụ thuộc vào môi trường kinh tế vĩ mô và độc lập với đặc điểm của ngân hàng.
Trong các yếu tố đặc điểm ngân hàng khi xác định CV thì có thể được chia thành các yếu tố: QM ngân hàng, VCSH của ngân hàng, tiền gửi của ngân hàng, TKNH, RRTD và thu nhập. Mặt khác, các yếu tố kinh tế vĩ mô thì có thể bao gồm LS, LP, TTKT. Vốn chủ sở hữu VCSH của ngân hàng là nguồn tiền thuộc sở hữu hợp pháp của chủ ngân hàng trong một thời gian dài, chủ yếu bao gồm các khoản vốn ngân hàng được cấp, hoặc được đóng góp bởi những người chủ của ngân hàng khi mới thành lập, cộng với những khoản được trích lập, giữ lại từ lợi nhuận hoạt động. 123doc 10 VCSH của các Ngân hàng thương mại chiếm một tỷ trọng nhỏ trong các khoản mục tạo nên nguồn vốn nhưng với tính chất thường xuyên ổn định, VCSH có vai trò cực kỳ quan trọng đối các Ngân hàng.
VCSH của ngân hàng là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến cho vay ngân hàng. Theo các nghiên cứu trước đây, một ngân hàng có vốn cao hoặc ngân hàng có thể tiếp cận dễ dàng với các nguồn vốn khác thì sẽ có thể chịu đựng được trường hợp lỗ vốn mà không cần phải giảm tài sản và kết quả là các ngân hàng này sẽ cấp tín dụng nhiều hơn (Berrospide và Edge, 2010). Gambacorta và Marques – Ibanez (2011) cho rằng VCSH của ngân hàng có thể tác động đến cho vay ngân hàng nếu thỏa hai điều kiện: Các ngân hàng có động cơ để hạn chế sự biến động của tỷ lệ an toàn vốn trong tương lai và giảm thiểu rủi ro mất khả năng thanh toán. Bởi vì vốn yêu cầu có tương quan với dư nợ cho vay, điều này sẽ làm cho các ngân hàng điều chỉnh cho vay ngay lập tức.
Ngược lại, nếu ngân hàng có vốn cao hoặc thậm chí có dư thừa vốn thì sự thua lỗ sẽ có thể dễ dàng hấp thụ mà không cần bất kỳ sự điều chỉnh nào trong danh mục cho vay. Một thị trường không hoàn hảo với VCSH của ngân hàng bắt buộc phải tồn tại: các ngân hàng không thể dễ dàng phát hành vốn mới do các điểm bất lợi về thuế, vấn đề sự lựa chọn đối nghịch và chi phí đại diện. Kishan và Opiela (2000) cho rằng hai điều kiện này cần phải thỏa. Tuy nhiên, các tác giả cũng đề cập rằng vốn an toàn tuân theo tiêu chuẩn Basel có thể ràng buộc khả năng ngân hàng mở rộng tín dụng với mức VCSH của ngân hàng.
Moussa và Chadia (2016) ủng hộ mối tương quan dương giữa vốn và tăng trưởng cho vay. Do đó, sự gia tăng vốn sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng cho vay. Ladime và các cộng sự (2013) và Pham (2015) tìm thấy kết quả tương tự. Ngược lại, Berrospide và Edge (2010) cũng chỉ tìm thấy tác động nhẹ của vốn đến QM của cho vay.
Bridges và các 123doc 11 cộng sự (2014) ủng hộ rằng vốn yêu cầu có thể tác động đến CV với các điều kiện khác nhau. Kosak và các cộng sự (2015) nghiên cứu sau hơn và đánh giá liệu chất lượng của VCSH của ngân hàng có tác động đến cho vay ngân hàng hay không. Các tác giả cho rằng vốn cấp 1 (chẳng hạn như vốn có chất lượng cao) có tác động tích cực đến tăng trưởng cho vay. Hơn thế nữa, vốn cấp 2 cũng có tác động tích cực đến CV nhưng chỉ trong giai đoạn nền kinh tế ổn định, không có các bất ổn xảy ra, ngoài ra, trong thời kỳ khủng hoảng năm 2007 – 2008 thì tác động này không có ý nghĩa thống kê.
Thanh khoản Tính thanh khoản của Ngân hàng là khả năng đáp ứng những nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm chi như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn…. Tỷ lệ thanh khoản phản ánh mức dự trữ bắt buộc được các Cơ quan thanh tra và giám sát ngân hàng quy định khi yêu cầu các ngân hàng phải nắm giữ mức dự trữ tối thiểu trong bảng cân đối của mình. Theo đó, tỷ lệ thanh khoản thể hiện khả năng hoàn trả các khoản tiền gửi ngắn hạn của ngân hàng trong tổng số tiền mặt mà ngân hàng đang nắm giữ. Khi tỷ lệ này cao thì hàm ý rằng khi có một sự rút tiền đáng kể từ các khách hàng gửi tiền của ngân hàng thì các ngân hàng vẫn có đủ tiền mặt để đảm bảo nghĩa vụ đã cam kết.
Trong trường hợp ngân hàng không đảm bảo đủ việc hoàn tất các nghĩa vụ này thì có thể dẫn đến các ảnh hưởng tiêu cực cho ngân hàng về lâu về dài trong quá trình hoạt động kinh doanh. Hơn thế nữa, các khoản cho vay được hiểu là các tài sản kém thanh khoản, khi ngân hàng tăng cho vay thì có nghĩa là tăng tài sản kém thanh khoản. Các ngân hàng thường phải đối mặt với rủi ro thanh khoản khi họ không thể chuyển đổi các cổ phiếu hoặc tài sản kém thanh khoản thành tiền mặt mà không bị giảm giá trị của tài sản hoặc giảm thu nhập. Theo Pilbeam (2005), trên thực thế thì có thể thấy rằng lượng thanh khoản mà các ngân hàng nắm giữ thì bị tác động đáng kể bởi nhu cầu cho vay.
Nếu nhu cầu cấp tín dụng tương đối thấp thì các ngân hàng có khuynh hướng tăng tỷ trọng TSTK được 123doc 12 nắm giữ, trong khi đó nếu nhu cầu cấp tín dụng tương đối cao thì các ngân hàng có xu hướng giảm tỷ trọng TSTK được nắm giữ thì các khoản cho vay lúc này sẽ mang đến nhiều thu nhập hơn cho ngân hàng. Do đó các ngân hàng thường phải dự trữ lượng tiền mặt, TSTK hợp lý để đáp ứng nhu cầu của các khách hàng. Cho nên một ngân hàng không đủ khả năng cấp tín dụng khi khả năng thanh toán của họ đang bị suy giảm đáng kể. Ehrmann và các cộng sự (2001) cho thấy rằng các ngân hàng ở khu vực Châu Âu phản ứng khác nhau với CSTT với vị thế TKNH là yếu tố quan trọng nhất khi xác định sự khác biệt này.
Malede (2016) cũng tìm thấy mối tương quan dương giữa thanh khoản và tăng trưởng cho vay của các ngân hàng. Quy mô ngân hàng QM ngân hàng được các nghiên cứu trước đây nhận định đây là yếu tố có tác động đáng kể đến CV của ngân hàng. Đầu tiên, QM ngân hàng có thể phản ánh được QM nền kinh tế trong đó ngân hàng có QM lớn dường như nhận được nhiều lợi ích từ QM nền kinh tế do sự sụt giảm trong chi phí sản xuất và thu thập thông tin. Bên cạnh đó, các ngân hàng có QM lớn dường như có khả năng đa dạng hóa nhiều hơn (Moussa và Chadia, 2016).
Peek và Rosengren (1995) tìm thấy rằng các ngân hàng có QM nhỏ dường như cấp tín dụng nhiều hơn so với các ngân hàng có QM lớn. Tuy nhiên, Cole và các cộng sự (2004) lập luận rằng quyết định cấp tín dụng này của các ngân hàng QM nhỏ dường như có mức rủi ro cao hơn. Nhưng ngân hàng có QM nhỏ dường như có lợi thế trong việc đánh giá các khoản tín dụng do sử dụng các thông tin mềm (soft information) (Carter và các cộng sự, 2004). Mặt khác, các ngân hàng có QM lớn cũng 123doc 13 có lợi thế cạnh tranh trong việc cho vay khi dựa vào các thông tin cứng (hard information) (Moussa và Chadia, 2016), cũng như các ngân hàng này có thể đầu tư vào các phân khúc khách hàng khác nhau, địa bàn khác nhau (Malede, 2014).
QM của ngân hàng cũng có vai trò quan trọng trong việc quyết định nợ xấu (Moussa và Chadia, 2016). Kishan và Opiela (2000) đã lập luận rằng QM ngân hàng có thể tác động đến khả năng ngân hàng tăng vốn và kết quả là vẫn duy trì mức tăng trưởng cho vay. Điều này đặc biệt diễn ra thường xuyên trong giai đoạn Ngân hàng nhà nước thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ. Nhiều nghiên cứu khác như Ladime và các cộng sự (2013), Tomak (2013), Malede (2014), Moussa và Chadia (2016) đã tìm thấy mối tương quan dương và có ý nghĩa thống kê giữa QM ngân hàng và cho vay của ngân hàng.
Do đó các ngân hàng có QM lớn sẽ cấp tín dụng nhiều hơn so với các ngân hàng QM nhỏ. Mặt khác, Kosak và các cộng sự (2015) đã cho rằng QM ngân hàng có thể tác động đến CV của ngân hàng, nhưng đây là ảnh hưởng ngược chiều.