CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU Trong bối cảnh suy thoái chung của nền kinh tế thế giới và những khó khăn nội tại của nền kinh tế quốc gia, với định hướng tổng quát năm 2014 nhằm mục tiêu ổn định, hội nhập, đảm bảo an sinh, phúc lợi xã hội, nền kinh tế Việt Nam đầu năm 2015 đã có chuyển biến bước đầu, tích cực và đúng hướng. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế còn khó khăn, thì việc điều hành một công ty đòi hỏi nhiều yếu tố, trong đó quan trọng là những kỹ năng, phẩm chất của các nhà quản trị. Đặc biệt, trong các công ty lớn thì vấn đề quản trị đòi hỏi việc tách biệt giữa sở hữu và quản lý. Việc tách biệt này rõ ràng đưa ra những lợi ích đáng kể cho các công ty với hàng ngàn cổ đông.
Đó là việc ủy quyền cho các cổ đông đại diện cho các cổ đông thiểu số khác; là việc chia tách, chuyển nhượng cổ phần sẽ không ảnh hưởng đến việc điều hành công ty; là việc thuê được các nhà quản lý chuyên nghiệp hành động theo các mục tiêu, chiến lược của công ty, giải quyết được mâu thuẫn giữa vốn và năng lực điều hành… Việc tách biệt giữa quyền sở hữu và quản lý, mặc dù đem lại những lợi ích không thể phủ nhận, nhưng cũng đưa lại sự mâu thuẫn giữa mục tiêu của các cổ đông và các nhà quản lý. Sự mâu thuẫn này tạo nên những vấn đề về người chủ - người đại diện. Các cổ đông là người chủ luôn mong muốn và yêu cầu các nhà quản lý tăng giá trị công ty; còn các nhà quản lý lại thường có khuynh hướng hành động cho lợi ích của bản thân. Những lợi ích này có thể gây ảnh hưởng đến mục tiêu của các cổ đông.
Minh chứng cho mâu thuẫn này là cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã để lại cho cả thế giới bài học đắt giá. Vấn đề mâu thuẫn này chỉ được giải quyết nếu các bên nhận được thông tin ngang bằng nhau. Tuy nhiên, đây là điều không thể trong thị trường tài chính. Vì vậy, để khắc phục vấn đề người chủ - người đại diện thì các công ty đã có nhiều biện pháp như thiết lập và thực hiện các cơ chế kiểm tra, giám sát, chính sách lương thưởng có động lực… Ngoài ra một biện pháp hữu ích khác thường được các công 3 ty sử dụng là gắn kết lợi ích của nhà quản trị với lợi ích doanh nghiệp thông qua tỷ lệ cổ phần được sở hữu bởi các nhà quản lý.
Mục tiêu của bài này là nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của công ty và tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu công ty của CEO và tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của Ban Giám đốc đến hiệu quả kinh doanh của công ty. Với mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn sẽ trả lời cho ba câu hỏi về mối quan hệ giữa sở hữu quản trị và hiệu quả kinh doanh của công ty. Thứ nhất là liệu việc sở hữu cổ phần công ty của các thành viên trong Ban Giám đốc có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty? Thứ hai là nếu có ảnh hưởng thì mức độ ảnh hưởng của việc sở hữu quản trị này như thế nào? Thứ ba là tỷ lệ nắm giữ của các nhà quản lý bao nhiêu thì sẽ mang lợi ích cho chủ sở hữu là tăng giá trị công ty? Luận văn chọn nghiên cứu các công ty niêm yết trên HOSE trong thời kỳ năm 2007 đến năm 2013 bởi vì đây là thời gian từ khi Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSTC) đổi tên thành Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) đến nay. Đây cũng là khoảng thời gian vừa đủ để thực hiện nghiên cứu và đảm bảo số liệu thu thập được đầy đủ nhất.
Bài viết sử dụng phương pháp bình phương bé nhất OLS cho mô hình hồi quy tuyến tính đa biến với dữ liệu bảng để kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của công ty. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự sụt giảm hiệu quả kinh doanh xung quanh thời điểm niêm yết với một số thước đo hiệu quả hoạt động. Vì mẫu khá nhỏ và 4 không có đầy đủ dữ liệu của các doanh nghiệp niêm yết nên một số kết quả không mang ý nghĩa thống kê. Chúng ta thấy rằng, quyền sở hữu quản trị có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động và tài chính của doanh nghiệp.
Những doanh nghiệp có cổ phần thuộc sở hữu Ban Giám đốc ở mức độ thấp thì tỷ lệ sở hữu tương quan ngược chiều với hiệu quả hoạt động kinh doanh. Điều này dường như là kết quả của vấn đề đại diện. Vượt qua một ngưỡng nhất định, ước tính khoảng trên 28.75%, hiệu quả hoạt động gia tăng khi quyền sở hữu của Ban Giám đốc gia tăng. Trong giới hạn bài viết, kết quả ủng hộ lý thuyết có mối quan hệ phi tuyến giữa sở hữu của Ban Giám đốc và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp đối với thước đo hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bằng lợi nhuận trên doanh thu.
Kết quả đối với thước đo lợi nhuận hoạt động ủng hộ lý thuyết có mối tương quan nghịch giữa sở hữu cổ phần của Giám đốc và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trong khi đó, với hiệu quả doanh nghiệp do bằng lợi nhuận trên tài sản và lợi nhuận ròng, kết quả ủng hộ lý thuyết không có mối tương quan giữa sở hữu quản trị và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Phần tiếp theo của nghiên cứu được cấu trúc như sau: Chương tiếp theo trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây. Chương III mô tả bộ dữ liệu và phương pháp đo lường sở hữu quản lý và sự thay đổi hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Những kết quả thực nghiệm được trình bày trong chương IV. Cuối cùng là phần kết luận được trình bày trong chương V. 5 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Hiệu quả kinh doanh của công ty Huang và Song (2001) đã so sánh hiệu quả kinh doanh của các công ty được thành lập tại Trung Quốc và niêm yết tại Hồng Kông. Có hai hiệu ứng trái ngược nhau ảnh hưởng lên hiệu quả kinh doanh của các công ty mới niêm yết: ảnh hưởng tiêu cực của IPO và ảnh hưởng tích cực của tư nhân hóa.
Nếu tác động IPO chi phối tác động tư nhân hóa thì lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của công ty có sự sụt giảm đáng kể sau niêm yết. Ngược lại, nếu tác động tư nhân hóa chi phối thì lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của công ty sẽ được cải thiện. Ảnh hưởng tích cực của tư nhân hóa D'Souza và Megginson (1999) so sánh hiệu quả kinh doanh trước và sau khi tư nhân hóa của 85 công ty từ 28 quốc gia công nghiệp phát triển được tư nhân hóa thông qua việc phát hành cổ phần ra công chúng từ năm 1990 đến năm 1996. Nghiên cứu ghi nhận kết quả: Tư nhân hóa mang lại lợi nhuận, sản lượng, hiệu quả hoạt động và thanh toán cổ tức tăng đáng kể.
D'Souza và đồng sự (2000) đưa ra một số nguyên nhân của việc cải thiện hiệu quả kinh doanh của các công ty như sau: Kỷ luật thị trường vốn: Các giao dịch cổ phiếu công khai đưa đến khả năng công ty bị tiếp quản bởi các cổ đông bên ngoài, và khả năng liên kết chế độ lương thưởng với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả là, khi giao dịch cổ phiếu trong thị trường chứng khoán, chủ sở hữu phải nâng cao năng lực để thúc đẩy nỗ lực và trách nhiệm của nhà quản lý tốt hơn. Thay đổi chủ sở hữu: Sau khi tư nhân hóa, có sự thay đổi đáng kể trong động cơ của chủ sở hữu, nhà quản lý và các mục tiêu của công ty. Các doanh nghiệp nhà 6 nước thường theo đuổi các mục tiêu không phù hợp với việc tối đa lợi nhuận.
Do đó, sự tư nhân hóa giúp tạo ra lợi nhuận lớn nhất cho chủ sở hữu và cải thiện hiệu quả hoạt động đáng kể. Tái cơ cấu, thay đổi giám đốc điều hành và hội đồng quản trị: Ngay trước khi tư nhân hóa, nhiều doanh nghiệp cơ cấu lại thông qua việc thay đổi cơ cấu sở hữu, mua lại, cấu trúc lại tài chính,. Những thay đổi này sẽ giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn. Áp lực cạnh tranh.
Áp lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế có thể là động lực buộc các công ty mới được tư nhân hóa hoạt động hiệu quả hơn. Vì vậy, các doanh nghiệp tư nhân hóa trong ngành công nghiệp cạnh tranh có thể đạt được hiệu quả lớn nhất. Ngoài ra, việc các công ty phải công bố báo cáo tài chính thường xuyên có thể là một trong những lý do mà tư nhân hóa có thể cải thiện hiệu suất của các doanh nghiệp. Ảnh hưởng tiêu cực của IPO Một số nghiên cứu đưa ra bằng chứng thực nghiệm chứng minh hiệu quả kinh doanh công ty giảm đi sau khi công ty phát hành lần đầu ra công chúng trong các nền kinh tế phát triển và đang phát triển.
Các nhà quản lý cũng như các nhà đầu tư đều có những kỳ vọng lạc quan về kết quả kinh doanh tương lai của công ty dựa trên những gì mà nó đã thể hiện trước khi niêm yết. Jain và Kini (1994) đã so sánh giá trị của công ty tại thị trường Mỹ. Tác giả nghiên cứu sự thay đổi trong hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp khi các doanh nghiệp này tiến hành thay đổi từ hình thức sở hữu tư nhân thành sở hữu công cộng với mẫu nghiên cứu bao gồm các công ty IPO từ năm 1976 đến năm 1986. Kết 7 quả nghiên cứu cho thấy các công ty niêm yết lần đầu đưa ra tỷ số giá trị thị trường trên sổ sách (M/B) và tỷ số giá cổ phiếu trên thu nhập (P/E) cao tại thời điểm chào bán ra công chúng lần đầu nhưng giảm đi sau đó.
Jain và Kini (1994) nhấn mạnh rằng kết quả của họ cho thấy rằng các nhà đầu tư xuất hiện và định giá các công ty chào bán cho công chúng dựa trên kỳ vọng rằng tăng trưởng lợi nhuận sẽ tiếp tục, trong khi trên thực tế mức thu nhập trước khi IPO được kỳ vọng thậm chí không được duy trì. Jain và Kini (1994) đưa ra một số lời giải thích cho sự suy giảm trong hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.